Skip to search.

Breaking News Visit Yahoo! News for the latest.

×Close this window

DIENDANNHACSINGHEO

The Yahoo! Groups Product Blog

Check it out!

Group Information

  • Members: 50
  • Category: Artists
  • Founded: May 7, 2006
  • Language: Vietnamese
? Already a member? Sign in to Yahoo!

Yahoo! Groups Tips

Did you know...
Message search is now enhanced, find messages faster. Take it for a spin.

Messages

Advanced
Messages Help
Messages 286 - 316 of 19497   Oldest  |  < Older  |  Newer >  |  Newest
Messages: Show Message Summaries Sort by Date ^  
#286 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Tue Mar 20, 2007 1:28 pm
Subject: Viet Tan co^ng khai U?ng ho^. CSVN
tql766
Send Email Send Email
 


 Việt Tân công khai ủng hộ Cọng Sản Việt Nam tại Los Angelès !
TinParis. Đây là một bằng chứng rơ ràng nhất là "người của Việt Tân" ( cũng là tay sai của CSVN) ủng hộ Hà Nội. Đây chỉ là một trong những sự việc  mà Việt Tân cũng như Mặt Trận Hoàng cơ Minh trước đây đă chủ trương để làm ung thối và tan vỡ Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại như:
- Ngày Tỵ nạn, Ngày tranh đấu cho Tự Do, ngày Quốc Khánh, cho CSVN phát thanh gần đây trên Đài Chân Trời Mới, v.v...

Nơi nào có Việt Tân là nơi đó có chia rẽ ! 
Việt Tân đánh  lạc hướng cuộc  đấu tranh của chúng ta là  "  Đem lại Tự Do Dân Chủ  cho Đất Nước "  và  quét sạch  " bọn cầm quyền  đôc tài  Cọng Sản ".

Chúng  bày ra những tṛ như  đă nói ở  trên đây, v.v..để cho các nhà trí thức hay " tu hành " hám danh có dịp phô trương sự hiểu biết sâu rộng của ḿnh. C̣n đối với các " trí thức trẽ " th́ chúng đưa ra những luận điệu như " Phải vào hang cọp mới bắt được cọp", " không nh́n về dĩ văng mà hăy xây dựng tương lai ", " lộng giả thành chân ", v.v...Chúng tôi xin nhắc lại với các vị " trí thức " là xin quư vị đừng tưởng rằng ḿnh có bằng Đại-Học như Tiến sĩ, Bác sĩ, Dược Sĩ, Kỹ sư, Luật Sư v.v.( v́ đó chỉ là một sự xác nhận khả năng chuyên môn của quư vị để mưu sinh mà thôi cũng giống như tài xế Taxi, Thợ đ́ện, v.v.. ). là người " trí thức"  và có khả năng trong tất cả mọi lănh vực đâu, bằng cớ là có nhiều người có bằng Đại Học đă  bị  Việt Tân ( và Nguyễn hữu Chánh ) cho vào tṛng như đứa con nít vậy !  Các bạn ( nếu bạn c̣n tinh thần Quốc Gia)  hăy can đảm từ bỏ hàng ngũ Mafia Việt Tân ( dù chúng có ban cho bạn chút bổng lộc) để trở lại con đường ngay nẻo chánh l  Biết ḿnh bị gạt và can đảm nh́n nhận sự thật , đó mới gọi là "BIẾT " !

Sau đây TinParis cho đang bài viết  trả lời cho một vấn nạn như sau :

Trong Diển Đàn có Mail viết về cuổc viếng thăm Los Angelès của Phạm Gia Khiêm, trong đó tác giả đẵ coi Việt Tân như một đoàn thể chống CSVN . Nhưng người viết v́ ở xa nên chẳng biết rơ là Việt Tân chỉ là "Tay sai của CSVN " ( hay chạy chọt để làm tay sai CS)  mà thôi !
Thưa Quư Vị:
Tên NT/VC  Phạm Gia Khiêm đến họp với Ô. Thị Truởng Villaraigosa L.Ạ mà chẳng tổ chức đấu tranh nào [CDVN Los Angeles của Ô. Nguyễn Duy Nghêu thuộc MT/VT , KH/CTNCT. LA, KH/CTNCT nam Cali ] ở Los Angeles hay biết ǵ cả..?? Thế là làm sao Quư Vị ơi..?? Ngay cả Bs NXVinh, CT/CDVN Nam Cali có văn pḥng làm việc tại vùng L.A cũng chẳng biết luôn..?? Có lẽ chẳng đọc L.A Times hay chẳng nghe radio để biết lịch tŕnh bọn VC đến, rồi  NVQG Tỵ nạn đi xuống đuờng chống bọn chúng..!! Hay NVQG Tỵ nạn thiếu [t́nh báo, theo dơi..] cảnh giác chăng..??. Kính

  Việt Tân công khai ủng hộ Cọng Sản Việt Nam tại Los Angelès !  - Bài trả lời của Thực Chế -

Kính anh Nu và kính Quí vị .
      Anh Nu cũng như mọi người khi đọc báo Los Angeles Times ngày 14/3/07 mới biết tin loại chồn cáo, loại chuột bọ hôi thối Phạm Gia Khiêm xuất hiện ở  Lỗ Cống , Giầm Cầu  Los Angeles. Anh thừa biết loại người gọi là con cháu của Quốc Tặc Hồ Già chúng nó muốn chui vào cái xứ sở béo bở này nhưng chúng cũng dư biết ở đây đang có không biết bao nhiêu sự chờ đón sẳn sàn "Tặng" cho chúng cà chua thối trứng thối, và rút kinh nghiệm của những chuyến đi của Nguyễn Tấn Dũng, của Phan Văn Khải... trước đây, dại ǵ chúng công bố một lịch tŕnh đi t́m ăn loại căn bả của Đế Quốc mà nơi đó hiện có hàng trăm ngàn người trước đây chúng đ̣n thù, xua đuổi... c̣n gọi là " Bọn phản động ôm chân Đế Quốc " .
                   C̣n anh nói đến T́nh Báo, chỉ về Quân Sự thôi, lúc đương thời quân đội Ta có cả một ngành an ninh t́nh báo khá qui mô đó chứ, nhưng một sự cố Tết Mậu Thân 1968 đă xăy ra cho toàn Miền Nam, vậy là cái ǵ ? ( ngoài T́nh Báo QL/VNCH c̣n có t́nh báo QĐ Hoa Kư nữa kia mà.  Chúng ta thừa biết t́nh Báo Hoa Kỳ biết rơ kế hoạch Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân của CS Bắc Việt, nhưng đă không thông báo cho QL/VNCH. Có khác ǵ hôm nay trên xứ họ, họ bao che cho những con CHUỘT của chế đô mà họ đang ve vản !!!
                   Thưa anh Nu, chúng ta đều có những tấm ḷng, nhiệt t́nh trong đấu tranh để chống và sẳn sàn chống lại sự xâm nhập của CS Hà Nội. Nhưng cũng tùy t́nh huống, mà đối phó. C̣n trách hết các tổ chức hội đoàn và đồng hương một nơi nào đó th́ tôi thấy không nên. Việc anh nêu lên cũng là một kinh nghiệm nếu chúng ta có th́ giờ và phương tiện theo giỏi sát sao hơn.
Riêng việc anh đưa tên Cộng Đồng VN/ LA của tên Nguyễn Duy Nghiêu MT/VT vào mail này để anh hổi chuyện th́ tôi xin thưa Cái Cộng Đồng đó có danh xưng: CDNV Tỵ Nan Cộng Sản Los Angeles, nhưng trớ trêu là một CĐ Tỵ Nan CS lại KHÔNG CHÔNG CS, KHÔNG CHÔNG LẠI CHẾ ĐỌ HIỆN TẠI Ở VN kia mà !!! , vậy th́ nếu Nghiêu có biết tin nó cũng giấu như mèo giấu ... !  Khi tôi KẾT TỘI Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạm Cộng Sản Tại Quận Los Angeles ( nguyên văn danh xưng ) là cộng Đồng trá h́nh của bọn Việt Gian Cộng Sản tại Hải Ngoại, tôi hoàn toàn KHÔNG chụp mũ họ. Tôi có đầy đủ tài liệu chứng minh việc làm tay sai của Nghiêu, Long, Cừ cho CSV Hà Nội. Tôi đính kèm attach tài liệu theo mail này để mọi người xem và khi muốn đối đầu với tên Nguyễn D Nghiêu, Nguyễn Long , Nguyễn văn Cử th́ hăy dùng tài liệu này mà chát vào mặt chúng nó. Tài liều này do bà Thị Trưởng City South El Monte copy  trao cho BS Nguyễn Xuân Vinh và chúng tôi khi chúng tôi được Thị xă El Monte Trao Quyết Nghị Vinh Danh Cờ Vàng cho Tập Thể người Việt trong vùng th́ đă bị CĐ của bọn Nghiêu gởi Văn Thư cho City để chống đối !!!!!. Văn thư chúng gới cho HĐ Thành Phố El Monte có đầy đủ mân bác 3 cơ chế của Tổ Chức chúng nó : Nguyễn Long CT/HĐ CH, Nguyễn D Nghiêu CT/HĐ/QT và Nguyễn Văn Cử CT/HĐGS và có chữ kư của Long, Cử.( một trong 2 tên Cử hay Long là con rễ của Nghiêu).  Cá nhân tôi tại hành lang pḥng Hội của Thị Xă El Monte tôi đă chỉ thẳng vào mặt tên Nguyên Duy Nghiêu để chưởi nó, tôi nói: Chúng mày muốn làm ăn, muốn làm tay sai cho bọn CS Hà Nội th́ hảy cút khỏi đây, cút về Việt Nam mà ở. Mày đừng phá rối ở đây. Nghiêu đứng trơ mặt ra trước mọi người, v́ trên tay tôi đang cầm tờ Văn Thư của chúng do Bà Thị Trưởng mời chúng tôi đến sớm hơn giờ họp của HĐ/TP và trao trước đó, Bà ta nói với những lời khinh miệt về chúng nó.
Xin quí vị đọc câu này trong văn thư nói trên : " We have NO INTENTION to CONDEMN the current regime ....... " (nguyên văn). Tôi dốt tiếng Mỹ tôi tạm hiễu chúng nó nói: "CHÚNG TÔI không có ư định chống lại Chế Độ hiện tại ở VN... "  ( mà lư do chúng nói ở trên là CHÚNG đang liên hệ làm ăn với chế độ đó !!! ).
 Thân chào Quí vị và anh Nu.
 Thưc Chế
Đây là Tài Liệu Ô NHỤC của Mafia  Việt Tân núp dưới chiêu bài Cộng Đồng  Người Việt TNCS tại Los Angelès ( bằng tiếng Anh) khi nói về chế độ CSVN như sau :
Chúng tôi chỉ tạm dịch hàng viết gạch đỏ ( anh ngữ)  : " Chúng tôi không  có ư KẾT ÁN chế độ hiện nay, và gây ra những điều phiền toái vô ích"



Expecting? Get great news right away with email Auto-Check.
Try the Yahoo! Mail Beta.


Get your own web address.
Have a HUGE year through Yahoo! Small Business.

#287 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Wed Mar 21, 2007 2:25 am
Subject: Bai hat " Ho Chi Minh chet sinh "
tql766
Send Email Send Email
 



Kinh moi quy ban nghe ban nhac " Ho chi Minh chet sinh" va rao truyen
voi ban be gium
Cam on

http://www.tinparis.net/vietnamhaingoai/0307_HCMchetSinh_TranquanLong
.html

Kinh chao quy Ban
TinParis




We won't tell. Get more on shows you hate to love
(and love to hate): Yahoo! TV's Guilty Pleasures list.

#288 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Wed Mar 21, 2007 8:21 am
Subject: Bai ca "Ho Cgi Minh chet sinh"
tql766
Send Email Send Email
 


Need Mail bonding?
Go to the Yahoo! Mail Q&A for great tips from Yahoo! Answers users.
Kinh moi quy ban nghe ban nhac " Ho chi Minh chet sinh" va rao truyen voi ban be gium
Cam on

http://www.tinparis.net/vietnamhaingoai/0307_HCMchetSinh_TranquanLong.html

Kinh chao quy Ban
TinParis

Next

#289 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Wed Mar 21, 2007 10:09 am
Subject: Bai ca "Ho Chi Minh chet sinh"
tql766
Send Email Send Email
 

Get your own web address.
Have a HUGE year through Yahoo! Small Business.


Expecting? Get great news right away with email Auto-Check.
Try the Yahoo! Mail Beta.


Kinh moi quy ban nghe ban nhac " Ho chi Minh chet sinh" va rao truyen voi ban be gium
Cam on

http://www.tinparis.net/vietnamhaingoai/0307_HCMchetSinh_TranquanLong.html

Kinh chao quy Ban
TinParis

Next

#291 From: "Van Truc Le" <vantrucle@...>
Date: Mon Mar 26, 2007 2:16 pm
Subject: Mu+a Saigon Mu+a Ha`No^.i-Pham Dinh Chuong,Hoang Anh Tuan,Khanh Ly
vantrucle
Send Email Send Email
 
#292 From: Van Truc Le <vantrucle@...>
Date: Mon Mar 26, 2007 2:34 pm
Subject: TRIET GIAO : Nhac Si Pham Dinh Chuong
vantrucle
Send Email Send Email
 
Phạm Đ́nh Chương: Nhạc Sĩ Tiêu Biểu Cho Ḍng Nhạc Tiền Chiến Và T́nh Ca Quê Hương Việt Nam
 
Triết Giao

Vốn là một nhà sáng tác lớn của nền tân nhạc Việt Nam, Phạm Đ́nh Chương c̣n được xem như là một nhạc sĩ tiêu biểu của ḍng nhạc tiền chiến với những tác khúc đầu tay từ năm 1947, khi ông ở vào lứa tuổi 18 đầy nhiệt huyết hăng say.

Phạm Đ́nh Chương chào đời ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại huyện Bạch Mai, tỉnh Sơn Tây trong một gia đ́nh mang huyết thống văn hoa nghệ sĩ và có cuộc đời gắn bó cùng âm nhạc. Ông có người anh cùng cha khác mẹ là Phạm Đ́nh Viêm, tức ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long từng nổi tiếng trên diễn đàn văn nghệ hai miền Nam Bắc và ngay cả hải ngoại, cùng người chị ruột của ông tên Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ nhạc sĩ Phạm Duy. C̣n người em gái của ông tên Phạm Thị Băng Thanh chính là nữ ca sĩ Thái Thanh vốn được mệnh danh là “tiếng hát vượt thời gian, vang thời đại”

Tuy xuất thân trong môi trường có đầy đủ điều kiện để được thụ huấn về âm nhạc, nhưng trên thực tế Phạm Đ́nh Chương đă đến với nghệ thuật âm thanh từ những nỗ lực tự học hỏi t́m hiểu bằng chính tâm cảm của ḿnh, nên hầu như những sáng tác của ông đều chất chứa những đặc tính: vừa phiêu bạt vừa chân t́nh, trong mông lung có hiện thực và nhất là đằm thắm nét trữ t́nh đầy cảm khái trong t́nh yêu quê hương, con người và đất nước.

Từ năm 1951, ông cùng gia đ́nh di cư vào miền Nam và chính thức trở lại những hoạt động văn nghệ qua việc tái lập ban hợp ca Thăng Long gồm bản thân ông tức Hoài Bắc, Hoài Trung cùng 2 chị em Thái Hằng và Thái Thanh, bởi trước đó nhóm nhạc này đă từng có những buổi tŕnh diễn khi tham gia ban văn nghệ quân đội liên khu Bốn trong những ngày đầu tiên đi theo tiếng gọi non sông kháng chiến chống Pháp.

Qua những kinh nghiệm chua cay, thực tiễn và nh́n rơ bản chất của những người cùng chiến đấu cho ư thức hệ của miền Bắc đương thời, vốn là động lực chính yếu thúc đẩy cuộc di cư vào Nam, tâm trạng của Phạm Đ́nh Chương luôn hoài nhớ cố hương trong niềm mong đợi được trở về miền Bắc khi quê hương được thanh b́nh thoát ách xiềng xích chuyên chính, cởi trói tư duy vô sản độc tài, nên ta càng thấu hiểu hơn về ư nghĩa của nghệ danh Hoài Bắc mà ông tự chọn lựa cho ḿnh và nó càng bàng bạc trải đều qua những tác phẩm của ông như bài “Anh Đi Chiến Dịch”, một tác phẩm rất t́nh tự quê hương qua câu ḥ dạo đầu nêu cao chính nghĩa sáng ngời cứu người lầm than rồi tiếp theo là đoạn nhạc hùng tráng theo nhịp Folk sinh động tỏ rơ chí trai kiên cường đáp lời sông núi lên đường khi nh́n thấy nỗi xót xa của kiếp đọa đầy qua t́nh thương dân nghèo:

“Anh đi chiến dịch xa vời, ḷng súng nhân đạo cứu người lầm than.
Thương dân nghèo ruộng hoang cỏ cháy.
Thấy nỗi xót xa của kiếp đoạ đầy anh đi.
Không quên lời xưa đă ước thề, dâng cả đời trai với sa trường.
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề, nào ai ngại ǵ v́ gió sương.
Hôm nay ruộng đồng trong chiến dịch,
ḱa sáu chốn miền Đồng Nai lên niềm tin.
Nghe như lúa reo đời sống lành,
nghe như đất vui nhịp quân hành.
Anh đi chắc hẳn anh c̣n nhớ, đôi mắt u uẩn chiều tiễn đưa.
Của người em nhỏ thơ ngây quá, chưa biết cười lên hẹn đợi chờ.
Có những chiều mưa phơn phớt lạnh,
đem cả hồn Thu tới ḷng người.
Bao nhiêu chàng trai tay xiết mạnh,
thầm hẹn ngày về quê Bắc ơi.
Im nghe từ đồng hoang phố phường,
c̣n mênh mang một niềm thương như trùng dương.
Hôm nay có anh miền chiến dịch,
ôm súng mơ ngày về quang vinh”


Kèm theo đó là những ca khúc mang mật độ âm hưởng dày đặc thể dân ca Bắc bộ mà Phạm Đ́nh Chương cho ra đời vào thời kỳ ngay sau khi vào Nam như: Tiếng Dân Chài, Khúc Giao Duyên, Được Mùa, Sáng rừng v.v… càng biểu lộ tâm tư khắc khoải, tưởng nhớ cố hương của ông.

Chúng ta cũng không thể không đề cập đến lối phổ nhạc mang đặc tính thiên tài của Phạm Đ́nh Chương nơi những vần thơ trác tuyệt của những thi nhân khác qua các nhạc phẩm luôn lưu lại nhiều nét kỷ niệm sâu đậm trong ḷng giới ái mộ như: Đôi Mắt Người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Nửa Hồn Thương Đau, Đêm Màu Hồng, Dạ Tâm Khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền), Màu Kỷ Niệm (thơ Nguyên Sa), Mưa Sài G̣n Mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người Đi Qua Đời Tôi (thơ Trần Dạ Từ), Cho Một Thành Phố Mất Tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn ), Đêm Nhớ Trăng Sài G̣n (thơ Du Tử Lê) v.v…

Qua những phổ khúc trên, Phạm Đ́nh Chương đă bộc lộ thiên tài về nghệ thuật âm thanh ứng dụng sự lư giải và quy luật của nhạc lư Tây phương một cách tự nhiên hợp lư để khai mở cánh cửa thời đại cho nền tân nhạc Việt Nam theo trường phái cải cách, phóng thoáng nhưng không biến chất, mới lạ nhưng đậm đà bản sắc Việt nhạc qua những vần thơ theo thể tự do vốn đă thanh thoát không bị g̣ bó nơi âm luật. Có thể nói tác khúc “Mưa Sài G̣n Mưa Hà Nội” là một trong những bản nhạc thể hiện tài năng phối âm hoàn chỉnh sắc sảo, đặc biệt là những câu nhạc chuyển động ở cuối phiên khúc đưa người nghe đi vào điệp khúc bằng từng nốt nhạc được dựng nền trên từng hợp âm khi tiến khi thoái rất linh động, nhịp nhàng chẳng khác nào một tiểu khúc giao hưởng đầy âm vang của những hạt mưa gợi nhớ đất Hà thành một thời đă cùng giai nhân “chung nón d́u bước thơm phố phường”, và ngày nay đă trở thành những giọt lệ than khóc cho phần đất của quê hương vẫn c̣n bị tù đày:

Mưa hoàng hôn, trên thành phố buồn gió heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà
Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền ḥa
Thương màu áo ngà
Thương mắt kiêu sa
Hiền ngoan thiết tha
Thơ ngây đôi má nhung hường
Hà Thành trước kia thường, thường về cùng lối đường
Khi mưa ướt, lạnh ḿnh ướt
Chung nón d́u bước thơm phố phường
Mưa ngày nay, như lệ khóc phần đất quê hương tù đày
Em ngoài ấy c̣n nhớ hẹn xưa miệt mài
Giăng mắt heo may
Sầu rơi ướt vai
Hồn quê tê tái...


Sự nghiệp của Phạm Đ́nh Chương c̣n trải rộng tỏa khắp trên b́nh diện của thể nhạc T́nh Ca với những sáng tác phong phú đủ loại chủ đề nói về tuổi trẻ, t́nh yêu, hiện thực, hoặc chia sẻ nhịp rung cảm hân hoan cùng mọi người như các tác phẩm: Bài Ca Tuổi Trẻ, Thuở Ban Đầu, Mười Thương, Mộng dưới hoa, Bài Ca Ngợi T́nh Yêu, Đêm Cuối Cùng, Heo Mây T́nh Cũ, Xóm Đêm v.v…
Xin mời quư thính giả thưởng thức một vài tác phẩm của cố nhạc sĩ Phạm Đ́nh Chương.

Xuyên qua các chủ đề này, người ta lại càng nhận thức đầy đủ hơn nơi ư nhạc lời ca của Phạm Đinh Chương một tâm hồn tươi trẻ, nồng nhiệt và cũng không kém phần thương đau, xót xa trong tan vỡ của yêu đương luyến nhớ, cũng như trong cuộc đời của người nghệ sĩ luôn để lại những khối chân t́nh qua từng bước chân phiêu bạt mà ông đă đi qua. Có lẽ sự rung động dễ thương của những con tim khi chớm nở loài hoa t́nh yêu mới là cảm xúc tuyệt diệu nhất được Phạm Đ́nh Chương diễn tả bằng chính nội tâm hiện thực của ông qua ca khúc Mộng dưới hoa phổ từ thơ của Đinh Hùng:

Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại
Âu yếm nh́n anh không nói năng

“ “ “

Cuối cùng không thể nào không đề cập đến “Trường Khúc Tam Giang” với những nỗi niềm diễn tả tâm tư mang lời tự thuật thật sống động, đặc sắc của 3 con sông lớn đại biểu cho mạch sống của Ba Miền và được xem như là một đại tác phẩm trường tấu để đời của Phạm Đ́nh Chương có tên là “Hội Trùng Dương”, với 3 tiểu khúc gồm Tiếng Sông Hồng, Tiếng Sông Hương và Tiếng Sông Cửu Long, được liên kết thật chặt chẽ bằng những tiết tấu phối hợp sự biến âm đặc biệt biểu hiện t́nh cảm khi nhẹ nhàng, lúc khoan thai, khi hùng tráng, lúc trầm lắng, khi ngọt ngào, lúc thiết tha, quyện lẫn trong các câu ḥ mang sắc thái âm điệu thổ ngữ Bắc, Trung, Nam rất duyên dáng chân thành và trong sáng t́nh yêu quê hương vốn được hun đúc từ ngàn đời, tựa như 3 ḍng sông tuôn chảy miệt mài ra biển Đông, khi lững lờ lúc cuồn cuộn trôi măi theo chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

“Hội Trùng Dương” của Phạm Đ́nh Chương được diễn tấu bởi dàn hợp xướng và dựa trên bố cục của nền nhạc ḥa âm bởi dàn nhạc giao hưởng nên càng được phân tích rơ nét những đoạn chuyển động nói về đặc tính từng ḍng sông từng khu vực địa lư một cách mạch lạc, thông suốt. Nói chung, “Hội Trùng Dương” chính là một siêu tác phẩm kết tinh tâm huyết tài hoa của Phạm Đ́nh Chương và là một cống hiến vĩ đại cho ḍng nhạc T́nh Ca Quê Hương Việt Nam.

Phạm Đ́nh Chương đă hoàn thành sứ mạng nghệ thuật âm nhạc và ra đi vĩnh viễn vào ngày 22 tháng 8 năm 1991 tại vùng đất lưu lại bước chân phong trần cuối cùng của ông là California, Hoa Kỳ.

Không có sự từ biệt của nghệ sĩ nào mà không để lại sự mất mát cho đời, huống chi Phạm Đ́nh Chương vốn là một nhà sáng tác lớn th́ sự mất mát đối với nền nghệ thuật âm nhạc của Việt Nam lại càng to lớn và c̣n mang theo những nỗi tiếc thương gấp bội khó ḷng nguôi ngoai.

Trải bao mùa Xuân trên đất khách quê người, mà có lẽ trong chúng ta cũng có đă từng băn khoăn trắc trở khi quyết định ĺa xa quê hương yêu dấu và nay lại phải đón Xuân tha hương nơi xứ người. Người viết xin kính chúc quư độc giả một năm mới an khang, thịnh vượng và cùng hướng về quê hương trong niềm tin về một ngày mai tươi sáng sẽ hội ngộ nâng ly chúc mừng năm mới tại chính nơi mà chúng ta cất tiếng khóc chào đời.
 
Van Truc Le <vantrucle@...> wrote:
 


Don't pick lemons.
See all the new 2007 cars at Yahoo! Autos.

#293 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Mon Mar 26, 2007 11:03 pm
Subject: Pha'i ddoa`n Rafto tro+? ve^` Na Uy tu+` Viet Nam
tql766
Send Email Send Email
 
  • NA UY: PHÁI ĐOÀN RAFTO TRỞ VỀ TỪ VIỆT NAM
Tin Oslo - Sau 5 ngày chấn động bởi sự bắt bớ vô cớ và các cuộc thẩm cung đầy căng thẳng của công an Cộng sản Việt Nam tại Saigon, phái đoàn Rafto do bà Therese Jebsen dẫn đầu mới hoàn hồn khi đáp xuống phi trường Gardemoen, Oslo vào sáng thứ hai vừa qua. Nỗi lo âu sợ hăi vẫn c̣n hằn in trên gương mặt của một phụ nữ Tây phương chưa từng nếm mùi Cộng sản và cũng chưa bao giờ biết Cộng sản là ǵ, bà Therese Jebsen khi được hỏi bà nghĩ thế nào trong 5 ngày ở Saigon?".  Với giọng đầy hăi hùng bà nói đó là 5 ngày đầy kinh hoàng đối với bà. Riêng người thiếu nữ thông dịch viên là cô Trần Kiều chỉ biết ôm chầm lấy từng người mà nước mắt lưng tṛng. Mà ở trong những giọt nước mắt đó người ta thấy rơ sự dũng cảm trong t́nh thế nguy nan, Trần Kiều vẫn thể hiện một sự quyết tâm chống chọi đối phương bằng mọi giá để giành cho bằng được sự công bằng tối thiểu và đ̣i Nhân Quyền và Dân Chủ cho quê hương và dân tộc.

Số người tiếp đón phái đoàn Rafto trở về từ Việt Nam gồm có: Ông Arne Lynngaard, Chủ tịch Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto và nhiều kư giả báo chí Việt ngữ. Trong lúc chờ đợi ông Lynngaard cho biết trong những ngày vừa qua có rất nhiều điện thư của người Việt Nam khắp mọi nơi gởi đến ông, nội dung bày tỏ ḷng quan tâm của ḿnh đến việc làm của Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto và đây là điều khích lệ cho tổ chức này.

Sau khi rời phi trường Oslo, bà Therese Jebsen đáp chuyến bay về lại cố đô Bergen, nơi đặt trụ sở Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto. Lúc 12 giờ 20 cùng ngày tại phi trường Bergen, bà Therese Jebsen rất xúc động khi thấy nhiều người Việt Nam đến chào đón bà trở về được b́nh an. Dù rất mệt mỏi sau những ngày căng thẳng ở Việt Nam và chuyến bay dài từ Việt Nam về lại Na Uy, nhưng bà Therese Jebsen vẫn vui vẻ đón nhận những bó hoa cảm phục mà người Việt tại Bergen trao đến bà, như bày tỏ ḷng quư mến về sự quan tâm của bà cùng Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto. Ngoài đồng hương Việt Nam đón bà Therese Jebsen, c̣n có
  • NA UY: PHÁI ĐOÀN RAFTO TRỞ VỀ TỪ VIỆT NAM
Tin Oslo - Sau 5 ngày chấn động bởi sự bắt bớ vô cớ và các cuộc thẩm cung đầy căng thẳng của công an Cộng sản Việt Nam tại Saigon, phái đoàn Rafto do bà Therese Jebsen dẫn đầu mới hoàn hồn khi đáp xuống phi trường Gardemoen, Oslo vào sáng thứ hai vừa qua. Nỗi lo âu sợ hăi vẫn c̣n hằn in trên gương mặt của một phụ nữ Tây phương chưa từng nếm mùi Cộng sản và cũng chưa bao giờ biết Cộng sản là ǵ, bà Therese Jebsen khi được hỏi bà nghĩ thế nào trong 5 ngày ở Saigon?".  Với giọng đầy hăi hùng bà nói đó là 5 ngày đầy kinh hoàng đối với bà. Riêng người thiếu nữ thông dịch viên là cô Trần Kiều chỉ biết ôm chầm lấy từng người mà nước mắt lưng tṛng. Mà ở trong những giọt nước mắt đó người ta thấy rơ sự dũng cảm trong t́nh thế nguy nan, Trần Kiều vẫn thể hiện một sự quyết tâm chống chọi đối phương bằng mọi giá để giành cho bằng được sự công bằng tối thiểu và đ̣i Nhân Quyền và Dân Chủ cho quê hương và dân tộc.

Số người tiếp đón phái đoàn Rafto trở về từ Việt Nam gồm có: Ông Arne Lynngaard, Chủ tịch Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto và nhiều kư giả báo chí Việt ngữ. Trong lúc chờ đợi ông Lynngaard cho biết trong những ngày vừa qua có rất nhiều điện thư của người Việt Nam khắp mọi nơi gởi đến ông, nội dung bày tỏ ḷng quan tâm của ḿnh đến việc làm của Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto và đây là điều khích lệ cho tổ chức này.

Sau khi rời phi trường Oslo, bà Therese Jebsen đáp chuyến bay về lại cố đô Bergen, nơi đặt trụ sở Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto. Lúc 12 giờ 20 cùng ngày tại phi trường Bergen, bà Therese Jebsen rất xúc động khi thấy nhiều người Việt Nam đến chào đón bà trở về được b́nh an. Dù rất mệt mỏi sau những ngày căng thẳng ở Việt Nam và chuyến bay dài từ Việt Nam về lại Na Uy, nhưng bà Therese Jebsen vẫn vui vẻ đón nhận những bó hoa cảm phục mà người Việt tại Bergen trao đến bà, như bày tỏ ḷng quư mến về sự quan tâm của bà cùng Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto. Ngoài đồng hương Việt Nam đón bà Therese Jebsen, c̣n có sự hiện diện của đài truyền h́nh NRK và đài truyền h́nh Bergen TV.

Trả lời phỏng vấn của các đài truyền h́nh, bà Therese Jebsen nói bà cảm thấy thoải mái và an toàn khi đặt chân về lại Na Uy, thay v́ cứ bị sự theo dơi liên tục của công an mật vụ khi c̣n ở Việt Nam. Bà kể lại những giây phút căng thẳng xảy ra khi công an Cộng sản Việt Nam xuất hiện trong khi bà thay mặt Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto trao giải Nhân Quyền Rafto 2006 đến Ḥa Thượng Thích Quảng Độ. Mặc dù phái đoàn Rafto đă chuẩn bị những t́nh huống xấu nhất có thể xảy ra, nhưng hành động ngăn cản của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, cùng việc thẩm cung phái đoàn trong nhiều giờ, và bị theo dơi liên tục sau đó đă là những chứng minh cho thấy quyền làm người tại Việt Nam không được tôn trọng, như nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam thường rêu rao. Và dư luận người dân Na Uy rất bất b́nh khi việc thăm viếng Ḥa Thượng Thích Quảng Độ của bà Therese Jebsen và phái đoàn Hiệp Hội
sự hiện diện của đài truyền h́nh NRK và đài truyền h́nh Bergen TV.

Trả lời phỏng vấn của các đài truyền h́nh, bà Therese Jebsen nói bà cảm thấy thoải mái và an toàn khi đặt chân về lại Na Uy, thay v́ cứ bị sự theo dơi liên tục của công an mật vụ khi c̣n ở Việt Nam. Bà kể lại những giây phút căng thẳng xảy ra khi công an Cộng sản Việt Nam xuất hiện trong khi bà thay mặt Hiệp Hội Nhân Quyền Rafto trao giải Nhân Quyền Rafto 2006 đến Ḥa Thượng Thích Quảng Độ. Mặc dù phái đoàn Rafto đă chuẩn bị những t́nh huống xấu nhất có thể xảy ra, nhưng hành động ngăn cản của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, cùng việc thẩm cung phái đoàn trong nhiều giờ, và bị theo dơi liên tục sau đó đă là những chứng minh cho thấy quyền làm người tại Việt Nam không được tôn trọng, như nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam thường rêu rao. Và dư luận người dân Na Uy rất bất b́nh khi việc thăm viếng Ḥa Thượng Thích Quảng Độ của bà Therese Jebsen và phái đoàn Hiệp Hội


Bored stiff? Loosen up...
Download and play hundreds of games for free on Yahoo! Games.

#294 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Mon Mar 26, 2007 11:58 pm
Subject: LM Nguyen Huu Le va phong trao "30 na(m Saigon ma^'t te^n"
tql766
Send Email Send Email
 



HƯ CHIÊU, THỰC CHIÊU QUA “MIẾNG VƠ” “30 Năm Sàig̣n mất tên” CỦA LM NGUYỄN HỮU LỄ  - BN 587-
TinParis. Trong cuộc tranh đấu chống CSVN và tay sai ở hải ngoại, chúng ta cần phải tập trung nhân sự và phương tiện ( nhất là chúng ta - những người Việt Quốc Gia -  rất yếu kém  về các mặt nầy).  Ở hải ngoại, chỉ có  CS và tay sai là có nhiều tiền, nên chúng tung ra nhiều cuộc tranh đấu, nh́n qua thi rất hay nhưng khi phân tích kỹ vấn đề th́ chẳng ra ǵ. Chẳng hạn như trước đây, khi Việt Tân, hay Mặt Trận HCM bày lắm tṛ như ngày tỵ nạn, ngày tranh đấu cho Tự Do, Ngày Quốc Khánh, v.v.. cốt chỉ để chia rẽ cộng đồng Người Việt Hải Ngoại và làm sao lăng mục tiêu chánh là " triệt hạ CSVN". Phong trào của LM Nguyễn Hữu Lễ cũng vậy theo như bài viết sau đây.
 
  • BÀI 1 
            Ai cũng biết trong vơ thuật (vận sức lực) và vơ miệng (dùng ngôn từ) đều có chiêu thức:  Hư chiêu và thực chiêu!
Về vơ thuật:
          Hư chiêu là đ̣n nhứ, đ̣n đánh lừa để  tung đ̣n thật (thực chiêu) trúng đích (đối phương). Hư chiêu và thực chiêu phải song hành, nghĩa là khi tung hư chiêu th́ (ư, trong bụng) đă có sẵn thực chiêu rồi!
          Mai hoa quyền, mai hoa kiếm là sử dụng nhiều hư chiêu. . . .
         Dựa vào đó, các nhà viết chuyện phép thuật hay chưởng lực cũng h́nh thành hư ảnh, hư âm khi phóng kiếm quang, kiếm khí như :  “Thái ất thần đao”, “Tích lịch sa đạn”. . . . Hay vận nội lực phát chưởng như : “Thái âm khí công chưởng”, “Hàm mô công” . . . .
         Trong Binh pháp th́ có hư kế (chiêu) như : Kế không thành, khổ nhục kế. . .
Quan Vân Trường (Quan Công) là vị tướng nổi tiếng với thế “Đà đao”: Giả kế trá bại, thúc ngựa tháo chạy kéo rê cây đao, dụ tướng giặc đuổi theo gần sát rồi bất thần kiềm ngựa, hoành đao vụt chém ngược trở lại bay đầu giặc. “Đà đao” đă lấy đầu không biết bao nhiêu tướng giặc!
Về vơ miệng:

Chính trị: Dương đông kích tây, hư chiêu rất nhiều và có khi nhiều hư chiêu chỉ để hỗ trợ cho một mục đích (thực chiêu). . .

Trong xă hội thông thường: Nói bóng nói gió, mắng chó chửi mèo, làm bộ lên án A nhưng rồi để tấn công B . . . . là hư chiêu đă mang sẵn thực chiêu hàm ư để ám chỉ, chỉ trích, lên án đến ai đó, hay dùng hư chiêu làm bàn đạp huyênh hoang, ầm ỹ để mong được mọi người tôn sùng ḿnh lên!
Trong xă hội đen: Giới lưu manh dùng hư chiêu để chúng phô trương và gọi dưới từ lóng- chưng mặt hàng.
Xưa kia, Trương Nghi và Tô Tần là những người du thuyết - vơ miệng - giỏi. Tô Tần với thuyết “hợp tung”, đi du thuyết đă liên kết  được sáu nước: Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tề, Sở . Nhưng ngại kế “hợp tung” bị vỡ (không bền, không thực chất), liền âm mưu dẫn dắt Trương Nghi - chủ trương liên hoành - vào làm thừa tướng nước Tần (đời Tần Huệ Vương). Học thuật của hai người này nh́n có vẻ như muốn đem đến yên b́nh trong thiên hạ, nhưng hóa ra cốt lơi thực tế là để họ được hưởng giầu sang, địa vị tôn quư, hành trả tư thù. Nên miệng lưỡi họ thực gian trá, nguy hiểm!
      Tất cả những điều nêu trên đều bắt nguồn từ sự toan tính hay lừa lọc của con người hay phe nhóm trong một hành động hay việc làm nào đó, để sao đạt được cái ư muốn (cốt lơi thực tế) thầm kín !
      Ư muốn đó chính là thực chiêu. Và qua thực chiêu ấy, đủ để cho chúng ta đánh giá người sử dụng chiêu thức là thiện ác ra sao, chánh tà thế nào. . . ? Điều cốt lơi thực tế từ hành đồng đó là có đúng để đem lợi ích đến cho muôn dân, hay chỉ hỏa mù để cá nhân huyên hoang vênh váo, vinh thân ph́ da!
     
VẬY, KHI LM NGUYỄN HỮU LỄ TUNG MIẾNG VƠ MIỆNG “30 NĂM SÀI G̉N MẤT TÊN” TH̀ ĐÓ ĐĂ LÀ THỰC CHIÊU, HAY CHỈ LÀ HƯ CHIÊU CỦA LM LỄ?

       Mời  quư vị trên diễn đàn hăy cùng tôi cân nhắc vấn đề (diễn đạt theo chủ đề chính):
     Trước hết, việc đổi tên thành phố Sài G̣n thành tên HCM, không là sự nẩy sinh sau khi VC chiếm được Miền Nam. Mà chúng đă có ư từ trước, từ khi tên cáo già Hồ chí Minh c̣n sống. Tất cả Biệt Kích xâm nhập Miền Bắc, khi ở tù chung với thành phần tù chính trị. Th́ hầu như đều bị những người tù chính trị Miền Bắc này hỏi hai câu căn bản nhất:
1-  Tại sao ông Kỳ (Nguyễn cao Kỳ, khi làm Chủ Tịch ủy ban hành pháp trung ương), tuyên bố Bắc tiến, lại không Bắc tiến?
2-  Nếu các anh (BK, nhưng là ám chỉ phía VNCH) chiếm được Miền Bắc, th́ có đổi tên thành phố Hà Nội không? C̣n VC mà chiếm được Miền Nam là chúng sẽ đổi tên thành phố Sài G̣n bằng tên thằng già Hồ Chí Minh đấy!
Nên, đổi tên Thành phố Sài G̣n ra tên HCM đối với bọn VC đă mang ư nghĩa:
- Là xóa sổ tên Thủ Đô của Nước VNCH.
- Là biểu tượng  chiến thắng chế độ VNCH.
- Là khẳng định vai tṛ vững mạnh của cáo già Hồ chí Minh trong lănh đạo Đảng, dựa vào đó “mị dân” rằng Đảng của “bác” sẽ trường tồn.
- Là tôn cao vị trí của tên cáo già Hồ Chí Minh mà bọn VC đă áp đặt được toàn dân Miền Bắc phải sùng bái ngay từ cửa miệng với những nhóm từ   “Bác và Đảng”, “Bác là vị cha già của dân tộc”. . . làm lá bùa dán vào lưng dân chúng phải tiếp tục tuân phục Đảng CS lănh đạo , v́ Đảng  đương tiếp nối con đường của “Bác” đă vạch ra.
-           . . . . . . . . . . . . .
           Do đó, qua hệ quả trên, bọn VC đă làm (vận dụng) thế nào để xâm chiếm được Miền Nam, để chiếm cứ được thành phố Sài G̣n, hầu mới có quyền đổi tên Sài G̣n  thành ra tên Hồ Chí Minh (HCM):
-           Chúng sẵn sàng quỳ lậy “quan thày Tàu – Nga” cùng dùng mọi thủ đoạn. Bất chấp điều lệ ( tổng tuyển cử) của Hiệp định Geneve! Bằng khởi đầu, chúng thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (1960), quyết dùng vũ lực để chiếm đoạt Miền Nam. Chính chúng đă cùm kẹp đầy ải toàn dân Miền Bắc phải tuân thủ, thắt lưng buộc bụng để lao vào cuộc chiến. Chính chúng đă biến toàn Miền Nam thành băi chiến trường! Chính chúng đă gây ra cảnh máu đổ thịt rơi- cốt nhục tương tàn. . . Và sau cùng, chúng bội ước, chúng đă xé toạc Hiệp định Paris, cưỡng chiếm Miền Nam của Chính Phủ VNCH.
 
Hăy xét thực chất vấn đề, để có được cái tên Thành Phố HCM th́ bọn VC đă:
-  Đổi từ sự qụy lụy qùy lậy quan thày Nga-Tàu.
-  Đổi từ sự bần cùng hóa, bóc lột sức lực toàn dân miền Bắc.
-  Đổi từ hàng triệu sinh mạng thanh niên miền Bắc.
-  Đổi từ những mồ chôn người tập thể mà chúng đă dă man gây ra ở Huế.
-  Đổi từ hàng triệu, triệu các vụ khủng bố, hăm hại, giết chết dân lành miền Nam để ép buộc phải theo, phải tiếp tế, phải hỗ trợ, phải che dấu. . . bọn chúng.
-  Đổi từ cảnh ngút trời toàn cơi VN trong máu lửa chiến tranh, hận thù.
-           . . . . . . . . .
 Vậy, với một cái giá quá khủng khiếp: Máu chẩy thành sông, xương chất thành núi, tột đỉnh của tàn bạo và dă man ! Bọn VC mới cắm được cái bảng mang tên cáo già HCM lên trên thành phố SG. Th́ thử hỏi, liệu Lm Lễ chỉ văng chút nước miếng “30 năm SGMT”, với những luận điệu vá víu, vu vơ, không cụ thể, là khiến bọn VC sợ hăi trả lại tên thành phố SG lại cho ư?
   
KẾT LUẬN, TỪ NHỮNG PHÂN TÍCH NÊU TRÊN, MUỐN DÀNH LẠI TÊN THÀNH PHỐ SÀI G̉N:

-  Lm Lễ không thể chỉ văng chút nước miếng “30 năm SGMT”. Mà buộc Lm Lễ phải lănh đạo tổ chức một cuộc đấu tranh bằng vũ lực để lật đổ bọn đương quyền VC.
          Vậy, Lm Lễ có khả năng h́nh thành một cuộc chiến không?
-  Lm Lễ không thể chỉ văng chút nước miếng “30 năm SGMT”. Mà buộc Lm Lễ phải cầm đầu được toàn bộ số dân biểu trong quốc hội VC, để chúng bỏ phiếu thuận hủy bỏ tên của cáo già HCM, trả lại tên SG.
          Vậy, Lm Lễ có khả năng làm được điều này không?
-  Lm Lễ không thể chỉ văng chút nước miếng “30 năm SGMT”. Mà buộc Lm Lễ phải trở về VN nằm vùng, h́nh thành một cơ sở tổ chức dạng như  Công Đoàn Đoàn Kết ở Ba Lan, gầy phong trào toàn dân phản kháng và có thể phải trả giá bằng máu.
Vậy, Lm Lễ có khả năng nằm vùng, quy tụ và du thuyết lọt tai người dân để họ sẵn sàng hy sinh mạng sống chỉ với một vấn đề Đ̉I LẠI TÊN T.P SÀI G̉N không?
        
       Đặt vấn đề hỏi để khẳng định, chắc chắn Lm Lễ chẳng có khả năng ǵ! Nên Lm Lễ chỉ lừa bọn ngu, chứ làm sao gạt được người khôn. Chuyện không bao giờ thành, khi mà bọn cầm quyền vẫn là VC! Thành thử, chuyện chỉ là hoang tưởng, khi Lm Lễ cho rằng ồ ạt với phong trào kư tên vào Thỉnh Nguyện Thư đ̣i Ṭa Thánh Vatican trả lại tên cũ Tổng Giáo Phận (thành phố) Sài G̣n  là có thể làm sập được chế độ CSVN. Th́ rơ ràng đó đủ minh chứng miếng vơ “30 năm SGMT” của Lm Lễ chỉ là hư chiêu.
         Đă tung HƯ CHIÊU, th́ ắt phải có THỰC CHIÊU.
        Vậy, THỰC CHIÊU tức cái ư muốn thầm kín của Lm Lễ chủ trương nằm ở đâu?
 
Chúng ta xét tiếp:
 
        Sau khi đưa vấn đề “30 năm SGMT”, Lm Lễ không hề vạch một đường hướng vận động tranh đấu nào trực tiếp đối với bọn VC để đ̣i lại tên SG. Lm Lễ  chơi tṛ “Đánh trống bỏ dùi”. Để rồi hai tháng sau, dựa vào chủ đề “30 năm SGMT”, Lm Lễ quay sang CẮN Giáo Hội Công Giáo VN, bằng bài viết ĐẤU TỐ:
 
“Vài điều suy nghĩ về tên gọi “Tổng giáo phận thành phố Hồ chí Minh - (Lm Lễ)”.
 
[Với lập luận ấu trĩ , kém cỏi để lừa tầng lớp dốt nát. Mà quên đi rằng tất cả các Tổng Giáo Phận ở Việt Nam đều lấy vị trí địa phương nơi Đức Tổng Giám Mục được phân bổ (cư trú) đặt tên cho Tổng Giáo Phận. Phần này sẽ phân tích ở Bài 2, tiếp theo Bài 1 này. Nên, thực ra khi viết :TỔNG GIÁO PHẬN SÀI G̉N, là đă viết tắt. Nhưng chấp nhận được v́ Sài G̣n không phải là tên riêng của người, viết đúng và đầy đủ phải là TỔNG GIÁO PHẬN THÀNH PHỐ SÀI G̉N.]
 
Kế đến Lm Lễ tung: “ THỈNH NGUYÊN THƯ gửi Ṭa Thánh Vatican.”  Cầu mong  vận động bọn ngu (nếu là người công giáo) kư tên áp lực đ̣i hỏi Ṭa Thánh lấy lại tên Tổng Giáo Phận T.P HCM bằng tên cũ trước kia là Tổng Giáo Phận Sài G̣n.
 
Với lời mở đầu: 
 
“Kính thưa Đức Thánh Cha,
Chúng con, những người Công Giáo Việt Nam và một số người Việt Nam không theo đạo công giáo kư tên dưới đây. . . (Lm Lễ)”
 
Vậy, Lm Lễ đang hân hạnh mời gọi cả nhóm Giao Điểm, và những người nào không ưa Đạo Công Giáo (. . . một số người Việt Nam không theo đạo công giáo. . . ) hăy cứ kư tên thật nhiều vào để Ṭa Thánh và Tổng Giáo Phận T.P HCM rối mù, điên đầu lên! Khiến Đạo Công Giáo phải rắc rối, khốn khổ trước đă!
 
          Việc gây rối Đạo Công Giáo đă được ông Lm Nguyễn hữu Lễ bật đèn xanh, và thảo sẵn thỉnh nguyện thư. Vậy nhóm Giao Điểm và những người không ưa Đạo Công Giáo c̣n chần chờ ǵ nữa,  mà sao đến giờ này mới chỉ có được vài ngàn chữ kư, chỉ có việc kư thôi là được quyền chọc phá làm cho Đạo Công Giáo VN và Ṭa Thánh Vatican phải te tua, mà cũng c̣n lười biếng thế ư?
 
         Qua những đều đă tŕnh bày trên, xác định cụ thể Lm Lễ chỉ giả bộ lên án VC đă đổi tên thành phố Sài G̣n mà thôi, chứ thực chất lại là để tấn công Tổng Giáo Phận T.P HCM và Ṭa Thánh Vatican.
 
        Đúc kết:  Băi nước miếng “30 năm SGMT” chính là hư chiêu, hầu để hỗ trợ cho thực chiêu  “Vài điều suy nghĩ về tên gọi “Tổng giáo phận thành phố Hồ chí Minh - (Lm Lễ)”  và “Thỉnh nguyện thư gửi Ṭa Thánh Vatican - (Lm Lễ)” . Đó là thế  “Song long cước” của Lm Nguyễn hữu Lễ: Chân phải đá thẳng vào tử huyệt  Tổng Giáo Phận T.P HCM, chân trái đá vào hàm Ṭa Thánh Vatican!
 
        Nhận định về thực chiêu tức cái ư muốn thầm kín của Lm Lễ như thế đă đúng chưa? Mời quư độc giả trên diễn đàn đọc tiếp kỳ sau:
 
  •        Bài 2 - Hư chiêu, thực chiêu qua “miếng vơ” Tổng Giáo Phận T.P HCM của Lm Nguyễn hữu Lễ.

Sau hai tháng tung hư chiêu “30 năm SGMT”, Lm Lễ liền gửi lên diễn đàn một email rào đón với lời lẽ:
 
“Kinh thua quy vi va cac ban,
La mot nguoi cong giao Viet Nam, toi coi cai ten goi TONG GIAO PHAN THANH PHO HO CHI MINH la mot dieu o nhuc cho Giao hoi Cong Giao Viet Nam. Duoi cai nhin do, toi kinh gui toi quy vi va cac ban bai viet: “Vai dieu suy nghi ve ten goi TONG GIAO PHAN THANH PHO HO CHI MINH” voi uoc mong nhan duoc su ho tro va tiep tay cua tat ca nhung nguoi cong giao Viet Nam chan chinh, trong co gang tay tru dieu nhuc nha nay tren bo mat cua Giao hoi Cong giao Viet Nam. (Lm Lễ)”
 
Để hỗ trợ cho sự việc CẮN lại Giáo Hội Công Giáo VN (GHCGVN) bằng lời lẽ Đấu tố trong bài như sau:
 
“VÀI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ TÊN GỌI “TỔNG GIÁO PHẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
. . . . . . . . . .
Trong số thư hồi đáp, có một số khá đông tín đồ công giáo đă nhân cơ hội này để bày tỏ sự “bức xúc” trước việc tên gọi Tổng Giáo Phận Sài G̣n (TGP/SG) bị đổi ra thành Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (TGP/TPHCM) và mong muốn vấn đề này cũng được nêu lên trước công luận.
 
Riêng tôi, từ lâu nay tôi vẫn coi cái tên gọi dài ngoằn ngoèo và sặc mùi chính trị “Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh”,  như là một thứ ung nhọt mọc lên trong thân thể của Giáo hội Công giáo Việt Nam.  Ung nhọt này càng ngày càng mưng mủ nhức nhối và làm cho thân thể của Giáo hội Công giáo Việt Nam đang lên cơn sốt. . . . . . . . .   (Lm Lễ)”
 
Lẽ dĩ nhiên, chúng ta (tôi và quư độc giả) không quan trọng mấy ngôn từ rối rắm, cường diệu, sáo ngữ và tṛ lừa bịp “. . . khá đông tín đồ công giáo đă nhân cơ hội này để bày tỏ sự “bức xúc”. . . .(Lm Lễ)”
 
Thực tế, trên diễn đàn Net này đă đủ minh chứng:  Số người chỉ trích lên án Lm Lễ chơi tṛ “ma tịt” khi nêu vấn đề “30 năm SGMT” nhiều hơn là số lên tiếng ủng hộ, và tổng số hai phía cũng chỉ khoảng năm sáu người, có cần nêu tên để thành chứng cớ cụ thể mà vạch mặt kiểu ăn nói gian giảo “. . . khá đông tín đồ công giáo. . .” của Lm Lễ không?
 
Không cần thiết lắm, mà chúng ta hăy xét vào vấn đề chính:
 
Tại sao trước kia gọi là TGP Hà Nội, TGP Huế và TGP Sài G̣n?  Các từ  Hà Nội, Huế và Sài G̣n là nghĩa ǵ? Vô nghĩa phải không? Vậy tại sao GHCGVN không biết lấy các từ Bác Ái, T́nh Thương và Tin Mừng với đầy đủ ư nghĩa và xứng hợp theo lẽ đạo Công Giáo hơn để đặt tên cho 3 Tổng Giáo Phận thành TGP Bác Ái, TGP T́nh Thương và TGP Tin Mừng?
 
Tại sao vậy, chắc tại GHCGVN ngu dốt quá, nên không biết đến các từ đầy ư nghĩa là Bác ái, T́nh thương và Tin mừng; thành thử  mới đi lấy các từ vô nghĩa là Hà Nội, Huế và Sài G̣n đem đặt tên cho 3 Tổng Giáo Phận, phải không Lm Lễ? Lm Lễ trả lời thế nào đây? Hay buộc phải trả lời, v́ ĐẠI BẢN DOANH CỦA CÁC TỔNG GIÁO PHẬN ĐẶT Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG ĐÓ!
 
THÀNH PHỐ SÀI G̉N KHÔNG BAO GIỜ MẤT TÊN TRONG L̉NG NGƯỜI DÂN VNCH, ĐIỀU ĐÓ ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH VÀ LÀ GIÁ TRỊ TINH THẦN BẤT DIỆT.
 
C̣n hiện thời, nước VC (VNDCCH) sở tại đă đổi tên TP Sài G̣n thành tên TP HCM, đó là quyền của kẻ có chủ quyền - NGOẠI NHẬN BẤT ĐẮC PHÂN TRANH- Các nước trên thế giới OK, không phản đối!  Nó hoàn toàn khác với sự việc mà bọn  Taliban khi c̣n cầm quyền Afghanistan, đi phá các Tượng Phật ở Bamiyan ; liền bị các nước trên thế giới và cơ quan UNESCO LHQ lên án, nhẩy vào can thiệp ngay - NGOẠI NHÂN TẤT HỮU PHÂN TRANH. 
 
Địa phương đă mang tên mới, tất cả mọi cơ sở trong địa phương đó phải đổi địa chỉ theo tên mới của địa phương.  Tổng giáo phận cũng chỉ là một cơ sở, tổ chức; một cơ sở, tổ chức về tôn giáo. Nên TGP (TP) Sài G̣n phải đổi theo địa chỉ mới thành TGP TP HCM thiết tưởng là hợp lư.  Không cách chi ngụy biện để lên án hay chỉ trích được.
 
Đó đủ xác minh Lm Lễ hoàn toàn kém cỏi, ấu trĩ về lập luận và chỉ có những dạng người ngu đần th́ mới đồng ư với lư lẽ của Lm Lễ.
 
Nên khi Lm Lễ viết: “. . .  toi (Lm Lễ)  coi cai ten goi TONG GIAO PHAN THANH PHO HO CHI MINH la mot dieu o nhuc cho Giao hoi Cong Giao Viet Nam. . . (Lm Lễ)”  và lư luận v́ “. . . . Một Tổng Giáo phận  của Giáo hội Công giáo Việt Nam không thể mang tên Hồ Chí Minh, một con người chính trị . . .  (Lm Lễ)” . Th́ càng chứng tỏ Lm Lễ là ĐẠI NGU.
 
Chúng ta hăy xem,  căn cứ vào cuốn “GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM, Niên Giám 2004” của Văn Pḥng Tổng Thư  Kư Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, nhà xuất Tôn Giáo - Hà Nội 2004. Th́ 3 Tổng Giáo Phận được gọi tên như sau:
1-Tổng Giáo Phận Hà Nội (trang 517).
2-Tổng Giáo Phận Huế (trang 620).
3-Tổng Giáo Phận thành phố Hồ Chí Minh (trang 692).
 
(Nh́n vào đấy là đủ hiểu, Hội Đồng Giám Mục VN đă dư biết trước vấn đề, nên vẫn giữ chữ THÀNH PHỐ cho “TGP thành phố HCM”, c̣n TGP Hà Nội và TGP Huế th́ không (viết tắt). Là v́ tên của thành phố đó bây giờ là tên riêng của một người- tên của cáo già HCM.)
Vậy, ai dậy tiếng Việt cho Lm Lễ để hiểu cách viết như trên là hàm ư  Tổng giáo phận đó đă mang tên Hồ Chí Minh. Muốn diễn đạt Tổng giáo phận đó mang tên HCM, th́ buộc phải viết là TỔNG GIÁO PHẬN HỒ CHÍ MINH (không có chữ TP), nhưng điều đó đă không xẩy ra. Thành thử,  có lẽ thày dốt nên dậy ra tṛ Lễ ngu là v́ vậy!
 
Cách viết TGP TP HCM dựa theo cuốn niên giám, ai cũng  dễ dàng hiểu ư thông thường:
Tổng giáo phận  ấy  ở Thành phố , và Thành phố đó có tên là HCM, (chứ không ai dần độn như Lm Lễ, đi hiểu ngược lại  Tổng giáo phận đó mang tên là HCM).
 
Hay hiểu biết cặn kẽ một chút th́ là: Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đương quản nhiệm Tổng Giáo Phận thuộc khu vực thành phố HCM.
 
 Kết luận: Tổng giáo phận th́ lấy tên thành phố. Thành phố th́ lấy tên Cáo Già.
Dẫn theo lối bàn “Kiên Bạch” th́ Tổng Giáo Phận hoàn toàn không trực tiếp (dính dáng) trong  khía cạnh mang tên HCM.
 
Đó thêm sáng tỏ, việc lấy tên của Tổng Giáo Phận là theo tên địa phương nơi Đức Hồng Y hay Đức Tổng Giám Mục được bổ nhiệm. HAY NÓI MỘT CÁCH KHÁC, TÊN CỦA TỔNG GIÁO PHẬN CHÍNH LÀ ĐỊA CHỈ KHU VỰC NƠI TỔNG GIÁO PHẬN ĐÓNG ĐÔ VÀ HOẠT ĐỘNG. Khi TP Sài G̣n bị bọn VC đổi tên là TP HCM, th́ tên TGP (TP) SÀI G̉N cũng phải cập nhật mà đổi theo. Có ǵ là không đúng?  Đó chỉ là một thủ tục hành chánh VÀ CŨNG CHỈ ĐỂ XÁC ĐỊNH LÊN ĐỊA CHỈ MỚI CỦA TỔNG GIÁO PHẬN mà thôi!
 
ĐỪNG LỪA BỊP, BỊA ĐẶT ĐỔ LỖI LÀ TẠI ĐÁM LM QUỐC DOANH ĐỂ  CHE ĐẬY CHO ÂM MƯU MUỐN PHÁ RỐI GHCGVN CỦA M̀NH, LM NHAM HIỂM NGUYỄN HỮU LỄ HIỂU CHỨ?
 
ĐÚC KẾT: Trước khi xác định  “miếng vơ” TGP TP HCM của Lm Lễ là Hư Chiêu hay Thực Chiêu. Mời quư vị độc giả xem đoạn truyện về bà mẹ của Công Phủ Văn Bá:
 “Công Phủ Văn Bá làm quan ở Lỗ, mắc bệnh mà chết, có hai người đàn bà v́ ông ta mà tự sát ở trong pḥng.  Người mẹ nghe vậy không khóc.  Người bảo mẫu hỏi: “Sao con bà chết mà bà không khóc?”.  Người mẹ đáp: “Khổng Tử là người hiền, bị đuổi ở đất Lỗ mà nó không đi theo, nay nó chết, đàn bà lại v́ nó mà tự sát đến hai người.  Thế đủ biết, nó tệ bạc với bậc trưởng giả mà hậu với đàn bà.”  Đứng về người mẹ mà nói như vậy th́ đó là bà mẹ hiền, nhưng đứng về người vợ mà nói thế th́ không khỏi bị xem là người vợ ghen! Cho nên, lời nói th́ vẫn là một, nhưng tùy ở địa vị người nói ra; cách hiểu của người nghe sẽ thay đổi. (SK TMT)”
 
Thể theo khía cạnh ấy, ở địa vị bọn VC khi đổi tên TP Sài G̣n thành tên TP HCM, là rơ ràng chúng muốn tôn cao vị trí tên cáo già HCM. Nhưng ở  địa vị  các cơ sở, tổ chức trong TP Sài G̣n th́ hoàn toàn khác; họ phải đổi theo tên “mới” TP HCM chỉ là thủ tục hành chính để xác định HỌ CÓ ĐỊA CHỈ MỚI, khi mà địa chỉ cũ về pháp lư nhà nước VC đương quyền  đă hủy bỏ! Nên các cơ sở, tổ chức ấy không hề dính líu, ảnh hưởng đến chút nào vinh, nhục về cái tên cáo già HCM cả!
 
Do đó, qua những điều tŕnh bày trên, việc đ̣i một Tổng Giáo Phận phải lấy lại tên cũ TP Sài G̣n  khi mà Thành phố  đó th́ vẫn c̣n là tên TP HCM, th́ ĐẤY MỚI CHÍNH LÀ ĐIỀU NGHỊCH LƯ.  Điều nghịch lư đó đă sáng tỏ  “miếng vơ miệng”  TGP TP HCM  của Lm Lễ  chỉ là HƯ CHIÊU; hoàn toàn sai lệch, trật nhịp, không đúng chút nào đối với TGP TP HCM và GHCGVN.
Miếng hư chiêu xuyên tạc ấy chỉ nhằm tiếp tay cho những kẻ vốn dĩ  không ưa đạo Công Giáo nhâu nhâu nhẩy vào đấu lưng cùng Lm nham hiểm Nguyễn hữu Lễ để xâu xé, gây rối, phá thối GHCGVN cho bằng được!
Than ơi!
 
Hởi GHCGVN! Có đau ḷng không, khi KẺ CƠNG RẮN CẮN GIÁO HỘI lại chính là một Linh mục? Than ơi!
Hởi GHCGVN! Có khổ tâm không, khi KẺ CƠNG RẮN CẮN GIÁO HỘI lại là một Linh mục được đào tạo từ  GHCGVN?
Và giáo dân công giáo chân chính nghĩ ǵ?
. . . . . . . . . .
Đă tung HƯ CHIÊU: TGP TP HCM, ắt Lm nham hiểm Nguyễn hữu Lễ phải có THỰC CHIÊU!
Vậy, Thực chiêu tức cái ư muốn thầm kín của Lm Lễ nằm ở đâu?
Mời quư vị độc giả đọc tiếp kỳ sau:
 
  • Bài 3 - Hư chiêu, thực chiêu qua “miếng vơ” Thỉnh nguyện thư gửi Ṭa Thánh Vatican của Lm Nguyễn hữu Lễ.

NGƯỜI DỐT, NGƯỜI KHÔN: ĐÀO HUYỆT CHÔN LM NGUYỄN HỮU LỄ!
 
 Đáng lư ra tôi phải viết Bài 3:  “Hư chiêu, thực chiêu qua “miếng vơ” THỈNH NGUYỆN THƯ GỬI T̉A THÁNH VATICAN của Lm Nguyễn hữu Lễ.”  Để quư độc giả đọc trước đă. Nhưng thấy có hai email (tạm) nhắm vào một người tên Nguyễn Phúc Liên, hay nói cho đúng mượn ư của anh  Liên để chuyển đạt ư ḿnh đến độc giả trên diễn đàn. Hai người đó có sự hiểu biết thật là trái ngược: Một NGƯỜI DỐT, phải gọi là ĐẠI DỐT! C̣n NGƯỜI KHÔN kia, phải nói là KHÔN CỔ QUÁI!
 
NGƯỜI DỐT,  ĐẠI DỐT:
 
“Hoang Nguyen” hngy2k88@... viết :
“Cùng gs Nguyễn Phúc Liên và tất cả quư vị, tôi cũng có tí đóng góp như sau:
 - Thường người ta nói “đi Sài G̣n” hay “đi Huế”, “đi Hà Nội” chứ chẳng ai lại nói “đi Hồ Chí Minh” bao giờ! Chữ “thành phố” có hay có với Huế hay Hà Nội không làm khó chịu người dân. Nhưng với HCM th́ khác, không có chữ thành phố nó trở nên lạc lơng, trơ trẽn và lố bịch không thể tả! Do đó “thành phố” đi liền với tên cáo Hồ này chẳng có ǵ lạ mà bắt buột phải như vậy mới có nghĩa. Chính đây là một cách tiếm danh trắng trợn của bọn Bắc bộ phủ mà bây giờ là lúc phải tẩy bỏ nó đi! (Hoang Nguyen viết dạng Vietnet, tôi chuyển qua Unicode)”
 
PHÂN TÍCH TỪNG ĐOẠN:

 Đoạn 1: “. . .       Thường người ta nói “đi Sài G̣n” hay “đi Huế”, “đi Hà Nội” chứ chẳng ai lại nói “đi Hồ Chí Minh” bao giờ!. . .(Hoang Nguyen viết)”
 
Anh Hoang Nguyen ơi! Các cụ thường nói: “Biết th́ thưa thốt, không biết th́ dựa cột mà nghe” để nhắn nhủ bọn “Dốt thích huyên hoang”, và “dốt” c̣n hàm nghĩa không có kiến thức nữa,  anh Hoang Nguyen có biết không? Hỏi cũng bằng thừa, v́ đă gọi là “dốt” th́ biết ǵ mà trả lời!
Anh Hoang Nguyen hăy hỏi những người về VN đi tour từ Bắc chí Nam th́ biết, bây giờ đầy dẫy bọn lơ xe đ̣ dọc đường vẫy khách hay ở ngay bến xe Hà Nội, Huế, Nha Trang. . .  chỉ hỏi khách kiểu ngắn gọn, nhát ngừng: “HCM?”, “đi HCM?” hay “HCM không?” kèm với nét mặt, dấu tay theo dạng hỏi. Th́ những người đi xe đ̣ từ Bắc vô Nam đều hiểu ư muốn diễn đạt: “Ông/bà(khách). . . có đi “thành phố” HCM không?”.  Nếu anh Hoang Nguyen không tin, cứ việc gọi phôn về cho bạn bè ở Nha Trang, Huế  . . . nói họ ra bến xe nghe xem có phải Khách và Lơ Xe, hay Người Bán Vé Xe  đa phần chỉ vắn tắt nói vậy, chứ không hẳn lúc nào cũng nói kèm “thành phố” với chữ HCM đâu, có đúng như thế không? Tốn tí tiền phôn, để trau dồi thêm kiến thức cụ thể là ḿnh đă dốt, th́ không phí đâu anh Hoang Nguyen à!
 
Đoạn 2: “. . . Chữ “thành phố” có hay có với Huế hay Hà Nội không làm khó chịu người dân. Nhưng với HCM th́ khác, không có chữ thành phố nó trở nên lạc lơng, trơ trẽn và lố bịch không thể tả!. . . ( Hoang Nguyen viết)”
 
Vậy hiện nay, ở các bến xe dọc theo chiều dài của đất nước VN. Các lơ xe, người bán vé và khách . . . , họ thường nói HCM trống không ra rả suốt ngày, ngày này qua ngày khác như đă nêu, nghe xong anh Hoang Nguyen c̣n thấy “lạc lơng, trơ trẽn và lố bịch” nữa không, hay nó cũng b́nh thường, như nghe Hà Nội, Huế. . .  thế thôi!
 
 Tôi đă nói ư này từ BÀI 2 “HƯ CHIÊU, THỰC CHIÊU QUA “MIẾNG VƠ” TỔNG GIÁO PHÂN TP HCM CỦA LM LỄ” là: Bọn VC lấy tên TP HCM v́ chúng muốn tôn cao vị trí tên cáo già, c̣n người dân gọi tên TP HCM chỉ là thủ tục hành chính để xác định nơi họ trú ngụ,  đến hay đi. . . là một thành phố có tên HCM.  Do đó, người dân không một ư ǵ (tôn cao, hạ nhục . . .)  khi lập lại ba chữ HCM từ cửa miệng hàng ngày trong giao dịch . . .  và đơn giản thôi, khi nói thêm hai chữ “thành phố” sẽ dài ḍng, thành thử người dân đa phần VẮN TẮT nói HCM không thôi cho nhanh, nhưng trong bối cảnh giao tế ( giao thông, buôn bán. . . ) khi ấy, là ai cũng hiểu tuy nói HCM không thôi, nhưng là để diễn tả TP HCM.  Rơ anh Hoang Nguyen dốt “kiến thức” rồi nghe!
Đoạn 3: “. . . Do đó “thành phố” đi liền với tên cáo Hồ này chẳng có ǵ lạ mà bắt buột phải như vậy mới có nghĩa. . . ( Hoang Nguyen viết)”
 
Nghĩa là anh Hoang Nguyen muốn nói không ai gọi trống không HCM? Th́ đoạn trên tôi đă nêu: Nhan nhản người dân hiện nay dọc tuyến đường Bắc Nam, gọi trống không HCM, mà không kèm theo chữ “thành phố”.  Là cụ thể chứng minh anh Hoang Nguyen tiếp tục dốt!
 
Hay anh Hoang Nguyen muốn nói ngược lại là: Chữ “Thành phố” đi liền với tên cáo Hồ chẳng có giá trị ǵ, bởi v́ không ai gọi trống không HCM, nên “đệm” hai chữ “thành phố” để chữ HCM khỏi “trở nên lạc lơng, trơ trẽn và lố bịch”.  Vậy phần trên, đă cụ thể chỉ cho biết rất nhiều người gọi HCM suông thôi không kèm chữ thành phố, mà chẳng “lạc lơng, trơ trẽn và lố bịch” chút nào. Anh Hoang Nguyen “dốt” c̣n thắc mắc ǵ nữa không?
 
 Kết quả phân tích đó, c̣n là bằng chứng căn bản khẳng định chữ “thành phố” đi liền với tên cáo Hồ  là để xác định trên các văn bản rằng: Đó là TP HCM (Ho Chi Minh City). Do đó, khi Giáo Hội Công Giáo VN vẫn giữ chữ TP (city) giữa chữ “Tổng Giáo Phận” và “HCM” là MUỐN DIỄN ĐẠT BẰNG TỪ NGỮ CỤ THỂ CHO MỌI NGƯỜI BIẾT RẰNG “TỔNG GIÁO PHẬN” ĐƯƠNG HOẠT ĐỘNG TRÊN MỘT VÙNG ĐẤT (VỊ TRÍ) MÀ VỀ MẶT ĐỊA LƯ LÀ MỘT THÀNH PHỐ (CITY). Vậy TGP TP HCM với chữ TP ở giữa, là đầy đủ nghĩa TGP đă lấy tên TP, chứ TGP không lấy tên HCM. Anh Hoang Nguyen c̣n muốn căi ngang để trở thành “dốt dai” nữa không?
 
Đoạn 4: “. . .Chính đây là một cách tiếm danh trắng trợn của bọn Bắc bộ phủ mà bây giờ là lúc phải tẩy bỏ nó đi!. . . (Hoang Nguyen viết)”
Hỏi thật anh Hoang Nguyen, anh học xong bậc tiểu học chưa?  Ai dậy anh “tiếm danh” là CHIẾM TÊN ( v́ chữ “Sài G̣n” là tên một thành phố  của Nước VN trước kia).
 
Về định nghĩa:
 
Tiếm (động từ): -Kẻ dưới mạo dùng danh người trên.- Chiếm lấy chức, quyền, địa vị của người bề trên ḿnh một cách ngang ngược.
Danh (danh từ): - Khi chữ “danh” đi liền sau chữ “tiếm” h́nh thành động từ kép “Tiếm Danh”, th́ nghĩa chữ “danh” ở đây thuộc về danh lợi, công danh, danh phận. . . chứ không phải là nhũ danh, quư danh, danh tánh. . .  
 
Nên TIẾM DANH c̣n đồng nghĩa với “tiếm quyền”, “tiếm chức”, “tiếm đoạt (ngôi vị)”. . . . Và các động từ kép này chỉ dùng để diễn tả hành động của con người với con người.  Mà chính xác để diễn đạt hành động của người dưới ( cấp dưới) lấn lướt, chiếm đoạt vị thế người trên (cấp cao). . . Đó là hành động mờ ám, không danh chính ngôn thuận.
 
Thử hỏi anh Hoang Nguyên: “Thành phố Sài G̣n” có là người không? Vậy bọn Bắc Bộ Phủ chó má kia đă TIẾM DANH thành phố Sài G̣n, hay TIẾM DANH Chính Phủ VNCH, hỡi anh Hoang Nguyen “dốt nát” kia ơi!
Hành động bọn VC đổi tên TP Sài G̣n thành tên TP HCM là công khai và trên phương diện ngoại giao quốc tế đă thừa nhận. Hành động ấy không mờ ám, th́ thử hỏi TIẾM DANH của anh Hoang Nguyen nằm ở đâu? Anh Hoang Nguyen có cách ǵ để “dốt kéo dài” căi ngang nữa không?
C̣n nếu anh Hoang Nguyen thuộc “dốt di truyền” th́ tôi hy vọng những cân nhắc sau đây sẽ giúp anh “tuyệt nọc”:
 
Xa xưa, vùng đất mà hiện nay mang tên TP(cáo già)HCM th́ đă có tên là PREYKOR.
Sau đó PREYKOR được đổi là SÀI CÔN, rồi SÀI CÔN mới đổi thành SÀI G̉N. Vậy, nói theo kiểu anh, th́ thử hỏi anh Hoang Nguyen: Ai đă làm cái tṛ “tiếm danh trắng trợn” này vậy?
Rồi, tỉnh Biên Hoà bị đổi thành tỉnh Đồng Nai, Tỉnh CàMau bị đổi thành tỉnh Minh Hải . . . các tỉnh đó cũng là bị “tiếm danh trắng trợn” cả phải không?  Và tỉnh Lâm Đồng nuốt chửng tỉnh Tuyên Đức để chỉ là tỉnh Lâm Đồng, th́ thử hỏi anh Hoang Nguyen “dốt” ăn nói cách nào đây?
C̣n về phương diện tên TGP TP HCM, th́ phải nh́n tiến tŕnh sự kiện: TP Sài G̣n bị VC đổi tên thành TP HCM rồi, th́ sau đó TGP Sài G̣n mới đổi tên thành TGP TP HCM. Đó chỉ là sự việc TGP cập nhật hóa theo tên ĐỊA PHƯƠNG MỚI, v́ TGP lấy tên theo tên địa phương nơi TGP đặt ĐẠI BẢN DOANH (văn pḥng chính).
 
Cụ thể sự việc là vậy, th́ mong anh Hoang Nguyen hngy2k88@... hăy lật đổ chế độ CS, hay làm cách nào đó, để đổi tên TP HCM thành lại tên TP Sài G̣n trước hết đă. Th́ lập tức TGP TP HCM lại cập nhật hóa đổi lại thành TGP Sài G̣n kế sau đó thôi mà!
 
Anh Hoang Nguyen ơi! Đừng “ngu dốt thái quá” đặt vấn đề NGƯỢC ĐỜI, đ̣i hỏi bắt CÁI CẦY ĐI TRƯỚC CON TRÂU, hay CÁI CẦY ĐI SONG HÀNH (NGANG HÀNG) VỚI CON TRÂU. Cho dù ông cố nội anh có “đội mồ sống lại” cũng chẳng làm được điều này đâu, anh Hoang Nguyen “dốt nát” nhé!
 
Anh Hoang Nguyen à, thực ra anh có “dốt” cũng không có ǵ là đáng trách!  Bởi học kém, không đi đây đó, không quảng bác giao tế. . . Tất cả đó, chẳng qua v́ hoàn cảnh. . . , v́ thiếu điều kiện. . . th́ anh  “dốt” là tất nhiên, không phải là điều để chê bai.
 
Nhưng điều đáng trách ở đây, là anh đă gian manh dựa vào ư thực tâm của anh Nguyễn Phúc Liên mà lồng ư đểu cáng của anh vào, để hỗ trợ cho mưu đồ nham hiểm của Lm Nguyễn hữu Lễ ḥng chọc phá, gây rối Giáo Hội Công Giáo Công Giáo VN! Th́ cái “DỐT” của Hoang Nguyen hngy2k88@... thành án phạt tự bêu riếu bản thân, phải được tŕnh làng cụ thể, để quư vị độc giả hiểu rằng: Lời kẻ “dốt” th́ làm sao mà đúng được !
 
Anh hăy nằm vắt tay lên trán suy nghĩ xem, viết có một cái email bằng bàn tay thôi. Sai từ đầu tới cuối, chẳng thể hiện được điều ǵ. Chỉ rơ nét Hoang Nguyen là kẻ “dốt”, “đại dốt” về mọi mặt: Suy nghĩ, lư luận, chữ nghĩa. . .
 
Tự anh đào huyệt “dốt” để chôn anh, chứ chẳng ai khác! Đồng nghĩa ANH ĐÀO HUYỆN CHÔN LM NGUYỄN HỮU LỄ theo luôn.  V́ ư chính trong email của anh là cổ động, hỗ trợ cho hành động của Lm Lễ ḥng lừa bịp, sách động NHỮNG KẺ NGU kư tên vào “Thỉnh nguyện thư. . .”, để phá Giáo Hội Công Giáo một cách triệt để!
 
 
NGƯỜI KHÔN, KHÔN CỔ QUÁI:
 
Duyên Lăng Hà tiến Nhất là “người khôn, khôn cổ quái”, v́ đă LỠM được Lm Nguyễn hữu Lễ qua bài viết “PHONG TRÀO NGUYỄN HỮU LỄ???”!
 
Thông thường, LỠM là một h́nh thức nói (viết) khôn khéo, lập lờ đánh lận con đen, làm cách nào để trêu đùa, châm chọc, nhạo báng. . .  người ta (đối tượng) về một vấn đề hay sự việc ǵ đó. Nhưng  (những) người ấy vẫn không hay biết, đôi khi c̣n lầm tưởng được khen!
 
Vài thí dụ:
Như trước kia, dưới triều Vua Bảo Đại.  Có chuyện nói về một cụ đồ đă LỠM Thủ Tướng Nguyễn văn Tâm bằng bức hoành “Đại Điểm Quần Thần”. Đây là lối LỠM sử dụng từ HÁN chuyển NÔM và vận dụng “nói lái” để thành câu châm biếm “Bề Tôi Chó Tâm”. Cũng có người cho đấy là một cách chơi chữ!
C̣n hiện nay, vào dịp tết. Chẳng hạn như tết Bính Tuất vừa qua, rất nhiều người chúc nhau và kể cả xướng ngôn viên truyền thanh, truyền h́nh . . . đôi khi cũng chúc khán thính giả câu:
 
Tiền vô như nước sông Hà,
Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin!
 
Đầu năm, được câu chúc “nhiều tiền, lắm bạc” như thế, ai mà không thích?  Tiền vô th́ như nước sông Hồng Hà, vô kiểu đó th́ phải nói bạc tỷ là cái chắc! Tiền ra th́ hai phút mới “nhiễu một giọt” giống cà phê phin, ra kiểu đó th́ hẳn có vài xu! Một năm hoạch tài cách  ấy th́ ai. . . ai cũng đều giầu “nứt đố, đổ vách” hết cả! Đúng là câu chúc tết khéo léo tuyệt vời, nếu con người chỉ nghĩ đến “tố chất giầu” và ngoài đời không có câu châm ngôn mắt xích:
 
Giầu mà không sang là BẦN,
Sang mà không giầu là MẠT!
(Giầu có mà không hào phóng là LOẠI NGƯỜI BẦN TIỆN,
C̣n, cái thứ con nhà lính mà tính nhà quan là nghèo mạt, suốt đời nhẵn túi!)
 
Sống trên thế gian này, trời thương cho nếu có đôi chút của cải, th́ chẳng một ai muốn bị người đời khinh chê là ĐỒ BẦN TIỆN! Huống hồ “Tiền vô như nước sông, mà tiền ra hệt rỉ đáy phin cà phê”! Th́ ôi thôi rơ nét: “Lợi nhuận bạc tỷ, chi tiêu bạc cắc”, mẫu người “lư tưởng” đó, khỏi phải bàn tán nhiều: Chính là KẺ ĐẠI BẦN TIỆN.
 
Lẽ dĩ nhiên, câu CHÚC LỠM này, không thể trách xướng ngôn viên hay người người đă dùng để chúc tụng, với thực tâm mong mỏi cho nhau một năm mới được  “GIẦU CÓ”. Bởi không ai để ư (biết, hiểu) đến chiều sâu khúc triết ngôn từ của kẻ (đầu tiên) đưa câu chúc đó ra để LỠM chơi mọi người trong dịp Tết theo nghĩa chữ “GIẦU SANG”.
 
Khái niệm về LỠM đôi chút như thế để chúng ta hiểu, kẻ viết (nói) LỠM sử dụng ngôn từ rất ư “chi ly”.  Đó là mấu chốt căn bản để lừangười đời thường hời hợt, thoáng qua, nên dễ mắc LỠM!
 
Theo hướng đó, nếu thoáng đọc, ai cũng tưởng anh Hà tiến Nhất (Ht Nhất) viết bài PHONG TRÀO NGUYỄN HỮU LỄ ??? (PT NHL) là đả phá anh Nguyễn phúc Liên (Np Liên) , để ủng hộ Lm Lễ. Nhưng xét kỹ ngôn từ th́ lộ rơ anh Ht Nhất chỉ “dùng ư” anh Np Liên làm “vỏ bọc” nhấn mạnh, tạo ấn tượng đánh lạc hướng, để dễ dàng  LỠM “thành công” Lm Nguyễn hữu Lễ (Lm Lễ) và những người cổ vũ, ủng hộ PT NHL!
 
Sở dĩ, tôi đặt vấn đề anh Ht Nhất LỠM “thành công” Lm Lễ, v́ bài viết của anh Ht Nhất hoàn toàn châm chọc Lm Lễ, thậm chí c̣n coi Lm Lễ là NGU nữa. Nhưng bài đó lại được chính anh Việt Sĩ  vietsi2002@... post lên diễn đàn SGHN_9@yahoogroups.com, Hoinghi@egroups.com và không kèm địa chỉ email của anh Ht Nhất. Mà anh Việt Sĩ  chính là một trong ba người tay chân “đắc lực” (Nguyễn thanh Hà sarahanne_nguyen@..., Việt Sĩ  vietsi2002@..., Dominic  Hoàng  dominichoang@... ) của Lm Lễ trong việc thu thập chữ kư Thỉnh Nguyện Thư . Th́ bài đó ắt phải là hợp ư, nên Lm Lễ mới cho “tay chân” post lên để “tự đắc” có đồng minh!
 
Chúng ta hăy xem, vào đoạn đầu bài anh Ht Nhất viết (toàn bài đính kèm phía dưới):
  “Cái ǵ là Phong Trào NGUYỄN HỮU LỄ?
Hiện nay mọi người chỉ thấy có một phong trào quần chúng do Lm Nguyễn Hữu Lễ khởi xướng . . .
 Phong trào này được Lm Nguyễn Hữu Lễ đặt tên là : PHONG TRÀO QUỐC DÂN Đ̉I HỎI TÊN SAIGON, được gọi tắt là PHONG TRÀO SÀIGON. Phong trào này như vậy nó tên tuổi đàng hoàng chứ đâu có phải là một thứ con hoang vứt ngoài bờ mương, xó chợ?  Hẳn giáo sư Nguyễn Phúc Liên có đọc trên Internet và biết điều đó? Nhưng giáo sư Liên đă không chịu gọi phong trào với cái tên của nó, mà ông lại cố  ư gọi nó là PHONG TRÀO NGUYỄN HỮU LỄ. . . (Ht Nhất viết)”
 
Với lời mào đầu  “Hiện nay mọi người chỉ thấy có một phong trào quần chúng do Lm Nguyễn Hữu Lễ khởi xướng . . .”  , kèm lời cuối “Nhưng giáo sư Liên đă không chịu gọi phong trào với cái tên của nó, mà ông lại cố  ư gọi nó là PHONG TRÀO NGUYỄN HỮU LỄ. . .”. Nếu không suy xét, th́ rơ đoạn văn trên  là anh Ht Nhất khen Lm Lễ và mắng mỏ anh Np Liên đă “cố ư” gọi bậy!
Nhưng hăy nh́n lại câu văn “Phong trào này được Lm Nguyễn Hữu Lễ đặt tên. . .” tức cái tên đó do ư cá nhân Lm Lễ đặt , chứ không phải từ ư một tập thể hay từ một cuộc thăm ḍ ư kiến mà có. Và câu  “Phong trào này như vậy nó tên tuổi đàng hoàng chứ đâu có phải là một thứ con hoang vứt ngoài bờ mương, xó chợ?”.  Đây chính là lúc anh Ht Nhất sử dụng “chi ly” ngôn từ, v́ dạng câu hỏi kiểu so sánh này mang hàm ư: Nếu anh Np Liên đúng, th́ đây chính là một loại phong trào kiểu “con hoang đầu mương xó chợ” mà thôi! Nếu anh Np Liên sai, th́ phong trào ắt không là “con hoang đật dờ”, nhưng giá trị của phong trào cũng không “nâng cao” được. Bởi anh Ht Nhất đă oái oăm “chi ly” dùng lối tỷ giảo so sánh cấp thấp, nên không là “con hoang dật dờ” th́ cũng là dạng ǵ đó gần gần sản phẩm của “mèo mả gà đồng” mà thôi! Vậy phong trào do một người đặt tên, “giá trị” phong trào không ra ǵ (đọc tiếp phần dưới, để thấy rơ anh Ht Nhất đánh giá thấp phong trào này thế nào)? Th́ anh Np Liên dùng tên người đặt thay tên của phong trào, mà gọi thành PHONG TRÀO NHL, sự “cố ư” đó, chắc chẳng đến nỗi đáng trách. Quả là anh Ht Nhất đă LỠM khéo Lm Lễ!
 
Và để củng cố việc ḿnh (Ht Nhất) đánh giá phong trào của Lm Lễ là một thứ phong trào lôm côm, anh Ht Nhất viết tiếp: “. . . . . Đánh loạn cào cào. Đánh không chiêu thức. Như vậy thử hỏi liệu tên cao thủ có đủ thế để chống đỡ hàng chục, hàng trăm thế loạn chiêu cùng một lúc được không? Giáo Sư Nguyễn Phúc Liên nghĩ sao? (Ht Nhất viết)”
 
Toàn câu đó đủ SỈ NHỤC Lm Lễ cùng “số người đến tham dự buổi ra mắt của Phong Trào Quốc Dân Đ̣i Trả Tên Sài G̣n đă đứng ngồi đông chật đến trên ba trăm người tham dự. . . [theo bản tin của Nguyên Huy (tbtc NH)]”,  bởi sự kiện:
 “Đến khi Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ trang trọng tuyên bố "Hôm nay ngày 15 Tháng Giêng năm 2006, Phong Trào Quốc Dân Đ̣i Trả Tên Sài G̣n chính thức ra mắt" th́ mọi người đều đứng cả dậy vỗ tay hoan nghênh đón nhận. (tbtc NH)” .
 
Rằng:
 
Chẳng qua câu văn “Đánh loạn cào cào”, tự bản thân nó đă cho định nghĩa: “Phong trào Quốc Dân Đ̣i trả tên Sài G̣n” chính thực chỉ là “cào cào”.  Nhưng anh Ht Nhất làm bộ mắng khéo anh Np Liên, để tạo niềm tin “lừa” Lm Lễ: Cứ có nhiều phong trào dạng “cào cào” như phong trào của Lm Lễ, rồi đem đánh loạn cào cào, th́ thằng VC làm sao đỡ nổi (Binh pháp “TÔN TẪN” Duyên Lănh Hà Tiến Nhất Tân Thời!)! Có thật thế không?
 
Hay đó để khẳng định sự kiện:  - Một ông Lm “trang trọng tuyên bố”, trên ba trăm người “đều đứng dậy vỗ tay hoan nghênh đón nhận”  một cái phong trào được anh Ht Nhất đánh giá chỉ là thứ “. . . cào cào. . . không chiêu thức”. Th́ quả là anh Ht Nhất đă LỠM  Lm Lễ khéo léo thật.
Và để khẳng định cái thứ  ‘Phong Trào” đă gọi là “cào cào, không chiêu thức” th́ chắc chắn “Chỉ là chuyện đùa”, KHÔNG THỂ NÀO THÀNH CÔNG nên anh Ht Nhất viết nhấn mạnh:
 
“. . . Một đứa con nít cũng thừa biết rằng sức mấy mà cha Lễ bắt được VC trả lại cái tên Saigon cho nhân dân miền Nam, và cũng sức mấy Hội Đồng GMVN sẽ nghe cha Lễ lấy lại tên cúng cơm  của Tổng Giáo Phận cho Saigon? Có mà điên!
. . . . . . . . . . . .
Chỉ là chuyện đùa nếu Lm Nguyễn Hữu Lễ thực sự nhất quyết xin Ṭa Thánh và HĐGMVN lấy lại tên TGP Saigon. Không lư cha Lễ điên (xin lỗi Lm Nguyễn Hữu Lễ) đến độ tin ràng ngài có thể làm được chuyện đó trong t́nh h́nh hiện nay?. . . (Ht Nhất viết)”
 
Chúng ta đều biết, “Phong Trào Quốc Dân Đ̣i Trả Tên Sài G̣n” của Lm Lễ ra mắt ngày 15-1-2006. Bài viết PHONG TRÀO NGUYỄN HỮU LỄ??? của anh Ht Nhất được anh Việt Sĩ post lên ngày 25-1-2006, tức 10 ngày sau ngày ra mắt.  Có nghĩa anh Ht Nhất đă biết  thành phần tham dự: “Trong số người tham dự chúng tôi nhận thấy có rất nhiều nhân vật trong các tổ chức tranh đấu có tiềm lực như tổ chức Phục Hưng, Mạng Lưới Nhân Quyền, Phong Trào Giáo Dân, các hội cựu quân nhân... các đảng phái như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt... và cộng đồng trẻ Việt Nam Phú Nguyễn, đặc biệt là nhiều vị thức giả trong cộng đồng cũng có mặt như Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích. . . (tbtc NH)”  Và diễn tiến: “Buổi ra mắt Phong Trào Đ̣i Trả Tên Sài G̣n, theo đa số người tham dự đều cho là thành công tốt đẹp. . . (tbtc NH)”  .
( Câu văn “thành công tốt đẹp” ở đây phải mang đủ 2 ư nghĩa:
1- Thành công về h́nh thức: Số người tham dự, cách thức tổ chức buổi lễ. . . 
2- Thành công về nội dung: Tạo được niềm tin thắng lợi, có tính thuyết phục thật sự, để mọi người tham dự buổi lễ đặt ḷng tin tưởng và Họ cũng sẽ là nhân tố tiếp tay, cổ vũ, đấu tranh, ủng hộ. . .
Bằng ngược lại thiếu một trong hai, th́ không thể dùng từ ngữ “thành công tốt đẹp”. Phóng viên Nguyên Huy trước là giáo sư Việt Văn, chắc hành văn không sai!)
 Vậy có nghĩa tất cả mọi người tham dự hôm đó, từ Lm Lễ đến “các tổ chức tranh đấu có tiềm lực” , đến “các đảng phái” , đến “nhiều vị thức giả trong cộng đồng” . . . đều “đồng tịch đồng sàng”  tin tưởng “HƯỚNG ĐẤU TRANH CỦA PHONG TRÀO LÀ ĐÚNG, PHONG TRÀO ẮT THÀNH CÔNG”. (Trái ngược với nhận định của anh Ht Nhất cho đó chỉ là chuyện đùa, không thành công - đă nêu trên.)
Vậy rơ ràng anh Ht Nhất đă LỠM Lm Lễ, “các tổ chức tranh đấu có tiềm lực” , “các đảng phái” , “nhiều vị thức giả trong cộng đồng”  . . .  Tất cả đều KHÔNG BẰNG ĐỨA CON NÍT! Cùng  hai lần dùng từ  ĐIÊN để ám chỉ Lm Lễ “có mà điên”, “Không lư cha Lễ điên”.  Vị tư lệnh “Phong Trào Đ̣i Trả Tên Sài G̣n”   bị anh Ht Nhất cân nhắc tới hai lần là “kẻ điên”, th́ vô lư không hàm ư LM LỄ đă NGU.
Nhưng Lm Lễ có NGU thật không, hay anh Ht Nhất đă chơi tṛ LỠM đểu?
Chúng ta xem một đoạn trong bản tin của phóng viên Nguyên Huy: “. . .Trong bài phát biểu này, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ cũng phân tích những chủ trương của Cộng Sản khi đưa ra khẩu hiệu "Yêu nước là yêu Xă Hội Chủ Nghĩa". Theo linh mục, như thế có nghĩa là trước khi có Xă Hội Chủ Nghĩa th́ người dân Việt không có ai yêu nước cả ư? Và, sau khi Chủ Nghĩa Xă Hội Cộng Sản sụp đổ th́ cũng không c̣n yêu nước được nữa sao?. . . (tbtc NH)”
 
Chứng tỏ Lm Lễ không có tư chút kiến thức nào. “Yêu nước là yêu Xă Hội Chủ Nghĩa” là khẩu hiệu “cổ động” dựa trên nền tảng ḷng yêu nước sẵn có của người dân, để vận động “thúc ép” toàn dân (miền Bắc) quyết tâm xây dựng Xă Hội Chủ Nghĩa (XHCN) theo chủ thuyết CS của bọn VC từ thời chúng bắt đầu cầm quyền cai trị Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (nửa nước VN từ vĩ tuyến 17 về hướng Bắc -năm 1954).
 
Đă gọi là khẩu hiệu th́ chỉ có tác dụng khi hô hào (lúc đó, thời điểm đó, thời gian đó, đưới chế độ đó. . .). . Nghĩa là khi XHCN c̣n th́ khẩu hiệu đó c̣n có ư nghĩa; khi XHCN bị tiêu diệt th́ khẩu hiệu đó không c̣n giá trị nữa.
 
Rơ ràng, khẩu hiệu đó chẳng ăn nhập, ảnh hưởng, chi phối, liên hệ hay lung lạc. . . ǵ được L̉NG YÊU NƯỚC  của Chính phủ cũng như người dân Miền Nam của nước VIỆT NAM CỘNG H̉A cùng thời kỳ đó.
Vậy, cụ thể ngay trước mắt chỉ cần khác giới tuyến thôi, là khẩu hiệu đó đă vô nghĩa (với VNCH) rồi. Th́ Lm Nguyễn hữu Lễ liệu có chịu nhận ra “cái vô lư” khi lập luận dông dài, liên hệ một cách ngớ ngẩn về khẩu hiệu đó đến quá khứ  “trước khi có Xă Hội Chủ Nghĩa th́ người dân Việt không có ai yêu nước cả ư?”, hay tương lai “khi Chủ Nghĩa Xă Hội Cộng Sản sụp đổ th́ cũng không c̣n yêu nước được nữa sao?”  là hoàn toàn sai không!
 
Thêm nữa, định nghĩa về L̉NG YÊU NƯỚC RẤT BAO LA, bao gồm yêu Tổ Quốc, Dân Tộc, Gịng giống, Chế độ, Quê hương . . . .  Đích thực XHCN chỉ là một chế độ, tức  là một phần trong nhiều phần của ḷng yêu nước. Và ai cũng hiểu khi chế độ này sụp đổ th́ có chế độ khác thay thế ngay lập tức. Cách lập luận của Lm Lễ làm như L̉NG YÊU NƯỚC chỉ cô đọng duy nhất ở XHCN, khi XHCN sụp đổ là L̉NG YÊU NƯỚC bị triệt tiêu!
Đă không có kiến thức lại thêm dốt chữ như thế nữa, th́ Lm Nguyễn hữu Lễ bị Duyên Lăng Hà tiến Nhất LỠM là “không bằng trẻ con”, là “hai lần điên = ngu” cũng đúng thôi!
 
Than ôi! Lm Nguyễn hữu Lễ, vị tư lệnh Phong Trào Quốc Dân Đ̣i Trả Tên Sài G̣n mà tư tưởng, chữ nghĩa “diễn thuyết” như vậy, th́ đă tự  ĐÀO HUYỆT CHÔN M̀NH rồi, đâu cần đến sự tiếp tay của anh Duyên Lăng Hà tiến Nhất nữa!
 
Trân trọng,
BN 587



 


 "Hoang Nguyen" hngy2k88@... wrote:
 
- Thường người ta nói "đi Sài G̣n" hay "đi  Huế",
"đi Hà Nội" chứ chẳng ai lại nói
"đi HồChíMinh" bao giờ!  Chữ "thành phố"
có hay có với Huế hay Hà Nội không làm khó
chịu người dân.  Nhưng với HCM th́ khác,
không có chữ "thành phố" nó trở nên lạc
lỏng, trơ trẻn và lố bịch không thể tả! Do
đó "thành phố" đi liền với cái tên cáo
Hồ này chẳng có ǵ lạ mà bắt buột phải
như vậy mới có nghĩa.  Chính đây là một
cách tiếm danh trắng trợn của bọn Bắc bộ
phủ mà bây giờ là lúc phải tẩy bỏ nó đi!

Phải Dẹp Bỏ Tên TP HồChí Minh!

Dẹp đi! dẹp quách! dẹp cho nhanh!
Danh cáo tên Hồ điếm quốc doanh
Pác pó hang dơi bầy Mác xít
Thành Hồ ổ nhện đám lưu manh
Gian hùng cưỡng lư ô dân tộc
Lừa bịp tiếm danh nhục sử xanh
Quốc hận: thủ đô tên khuyển tặc
Dẹp xong đất nước nhịp liên hành!

Xa`Beng
(01/22/06)



 
 
Duyên Lăng Hà tiến Nhất wrote:
 
Phong Trào  NGUYỄN HỮU LỄ ???
 
     Cái ǵ là Phong Trào NGUYỄN HỮU LỄ ?
     Hiện nay mọi người chỉ thấy có một phong trào quần chúng do Lm Nguyễn Hữu Lễ khởi xướng mục đích để đ̣i lại tên SAIGON cho một thành phố của miền Nam đă bị bọn CS xóa bỏ và thay vào bằng một tập hợp danh từ rất quái gở là THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, và đồng thời kêu gọi Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (GHCGVN) trở về với cái tên cúng cơm của một tổng giáo phận tại miền Nam là TỔNG GIÁO PHẬN SAIGON, thay v́ TỔNG GIÁO PHẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH như hiện nay. Phong trào này được Lm Nguyễn Hữu Lễ đặt tên là: PHONG TRÀO QUỐC DÂN Đ̉I HỎI TÊN SAIGON, được gọi tắt là PHONG TRÀO SAIGON. Phong trào này như vậy nó tên tuổi đàng hoàng chứ đâu có phải là một thứ con hoang vứt ngoài bờ mương, xó chợ? Hẳn giáo sư Nguyễn Phúc Liên có đọc trên Internet và biết điều đó? Nhưng giáo sư Liên đă không chịu gọi phong trào với cái tên của nó, mà ông lại cố ư gọi nó là PHONG TRÀO NGUYỄN HỮU LỄ.
 
     Như vậy là sao?
     Sự thể này nếu được đặt trong bối cảnh chủ trương đấu tranh của GS Liên mà ông tự cho là đúng hơn cả th́ nó chỉ có thể kể là một  một lời MIỆT THỊ? Miệt thị một sáng kiến chống cộng cho dù sáng kiến này chẳng ra ǵ đi chăng nữa có là điều không nên không?
 
     GS Liên quả thực có miệt thị cha Lễ và phong trào hay không, tôi không care. Tôi chỉ muốn bàn đến cái đường lối đấu tranh của ông mà thôi. Chủ trương của ông đại để là không nên phân tán lực lượng đánh CS vào những mục tiêu thứ yếu như đ̣i lại tên Saigon, mà cần tập trung mọi nỗ lực đánh vào những mục tiêu quan trọng chẳng hạn như: độc tài chuyên chế, tự do tôn giáo, bán đất bán biển cho ngoại bang v.v.
 
     Có lẽ GS Liên bỏ nước lâu quá nên đă không thấy một sự thực hiển nhiên trong vấn đề Thắng/Thua trong chiến tranh Vietnam. Trong khi VNCH chúng ta chỉ dồn nỗ lực vào mặt trận quân sự để đánh CS th́ BV tấn công chúng ta trên khắp mọi mặt trân. Ngoài quân sự, chúng vận động phong trào phản chiến để đánh ta và thu về những thắng lợi ngoạn mục về mặt chính trị trong dư luận quốc tế. Trong nước, chúng vận động nào là phong trào đ̣i quyền sống, đ̣i cải thiện lao tù, chống bắt lính, lập ra thành phần thứ ba vân vân và vân vân. Rơ ràng là các mặt tấn công của CS không những không làm phân tán và suy yếu sức chiến đấu của VC, mà c̣n có tác dụng hỗ trợ nhau để đưa đến thắng lợi cuối cùng cho chúng.
 
     Đàng khác, về mặt chính trị ma giáo, phải nên coi CSVN là một tay cao thủ vơ lâm, trong khi các tổ chức của người QG chỉ là những tay mơ về vơ thuật. Cho dù có hàng chục tay mơ tập trung đánh tay cao thủ vào một yếu điểm nào đó, chắc chắn nó không để sơ hở và thừa sức đỡ đ̣n. Vậy tại sao các tay mơ kia không biết cách căng đối thủ ra mà đánh? Gặp đâu đánh đó. Đánh loạn cào cào. Đánh không chiêu thức. Như vậy thử hỏi liệu tên cao thủ có đủ thế để chống đỡ hàng chục, hàng trăm thế loạn chiêu cùng một lúc được không? Giáo Sư Nguyễn Phúc Liên nghĩ sao?
 
     GS Liên là người học nhiều biết rộng không lư không biết trong vơ thuật thế nào là hư chiu và thế nào là thực chiêu, c̣n trong đấu tranh, thế nào là diện và thế nào là điểm? Cũng không lư giáo sư cho rằng cha Lễ đ̣i lại tên Saigon là đ̣i lại tên Saigon thiệt sao? Một đứa con nít cũng thừa biết rằng sức mấy mà cha Lễ bắt được VC trả lại cái tên Saigon cho nhân dân miền Nam, và cũng sức mấy Hội Đồng GMVN sẽ nghe cha Lễ lấy lại tên cúng cơm  của Tổng Giáo Phận cho Saigon? Có mà điên!
 
     Người Việt ta có câu: đánh rắn th́ phải đánh đầu. Về phương diện lập thuyết, CS dựa trên triết thuyết Marxist mà bành trướng. Nhưng nay lư thuyết đó đă tỏ ra quá lỗi thồi và đă bị đào thải. Bọn VC buộc ḷng phải vá víu lại lư thuyêt Marxist bằng cách thêm vào cái gọi là TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH làm nền tảng cho việc lập thuyết để cầm quyền.Vậy nếu không chứng minh được rằng cái gọi là Tư Tưởng HCM kia chỉ là Tư Tưởng bịp th́ làm sao đánh gục được thằng VC về mặt lư thuyết? Bao lâu nhân dân VN c̣n có người tin rằng HCM là người yêu nước thiệt, hắn có công đánh đuổi thực dân đế quốc th́ bấy lâu chế độ cộng sản VN c̣n tồn tại. Đ̣i lại tên cho thành phố Saigon chính là Diện, là Hư Chiêu. Dẹp bỏ đi cái huyền thoại HCM mới là Điểm, là Thực Chiêu.
 
Và GS Nguyễn Phúc Liên cũng nghĩ rằng cha Lễ có thể thúc ép được Ṭa Thánh và HĐGMVN chịu thay đổi cái tên Tổng Giáo Phận Thành Phố HCM hiện nay? Thực tế GHCGVN có 3 tổng giáo phận chia theo chiều dọc của đất nước. Nếu HĐGMVN khôn ngoan và biết tiên liệu th́ đă đặt tên là TGP Miền Bắc, TGP Miền Trung, và TGP Miền Nam. Như vậy th́ ngày nay làm ǵ có chuyện phải khó xử! Nhưng thôi chuyện cũng đă rồi. Trung thực mà nói th́ hiện nay HĐGMVN không c̣n chống cộng nữa, và GHCGVN c̣n có thể nói phần nào là chỗ dựa cho chế độ CS tồn tại. Chỉ là chuyện đùa nếu Lm Nguyễn Hữu Lễ thực sự nhất quyết xin Ṭa Thánh và HĐGMVN lấy lại tên TGP Saigon. Không lư cha Lễ điên (xin lỗi Lm Nguyễn Hữu Lễ) đến độ tin ràng ngài có thể làm được chuyện đó trong t́nh h́nh hiện nay? Vậy th́ đâu là Điểm và đâu là Diện, đâu là Hư Chiêu và đâu là thực Chiêu của vấn đề? Xin thưa chỉ có một cách phán đóan duy nhất, đó là đ̣i lại tên TGP Saigon chỉ là diện hay là một hư chiêu. Thực chiêu hay điểm là yêu cầu HĐGMVN phải dứt khoát chọn lựa thái độ đối với việc người công giáo VN đứng lên tranh đấu đ̣i lại Công Lư và Lẽ Phải cho Dân Tộc ḿnh, chứ không thể măi ù ù cạc cạc như hiện nay được. Nếu việc người CGVN tranh đấu là đúng th́ HĐGMVN cần phải lên tiếng cho là đúng, nếu là sai th́ cũng cần nói rơ là sai. C̣n việc giáo dân kiến nghị Vatican th́ chỉ có nghĩa là xin Ṭa Thánh nhận ra cái đúng/sai trong vấn đề VN hiện nay để áp lực HĐGMVN phải tuân hành.
 
     Đă từ lâu người viết không muốn nhiều lời về các vấn đề gây tranh căi bởi suy nghĩ rằng: chẳng có mợ th́ chợ cũng vẫn đông. Nay thấy phe ḿnh đánh phe ta hăng tiết vịt và tận t́nh quá nên viết bậy ít ḍng quấy quá để lạm bàn, chứ chẳng có ư ǵ với GS Nguyễn Phúc Liên đâu. Nếu giáo sư có đọc th́ xin hiểu cho. Nếu đây là lời phải th́ th́ quí vui ḷng ngưng chiến dùm.C̣n nếu kẻ hèn này bàn sai th́ cũng xin niệm t́nh thứ lỗi cho. Thành thật cám ơn.
 
Duyên-Lăng Hà Tiến Nhất
 


Food fight? Enjoy some healthy debate
in the Yahoo! Answers Food Drink Q&A.

#295 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Sun Apr 1, 2007 11:09 am
Subject: Video: Mu+`ng Sinh Nha^.t Thie^`n Su+ Tue^. Sy~
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
Mo+`i quy' vi. ddo'n xem
 
"Nha.c Trong Tho+ Tue^. Sy~"
 
 
THT


We won't tell. Get more on shows you hate to love
(and love to hate): Yahoo! TV's Guilty Pleasures list.

#296 From: "Tran Quan Long" <tql766@...>
Date: Mon Apr 2, 2007 10:31 pm
Subject: Kho^ng du lich, kho^ng mua hang hoa, kho^ng gu+?i tie^`n => CSVN =die
tql766
Send Email Send Email
 

Ba Khong Triet Tam Vo
Trich Tu: CD Phan Trac Ca
Tran Quan Long trinh bay; Quoc Toan hoa am

http://www.nhacsingheo.com/PhanTracCa/baKhongTrietTamVo.html


#297 From: "Tran Quan Long" <tql766@...>
Date: Tue Apr 3, 2007 12:18 pm
Subject: Nha.c: Xa Va … Xa Va Toa –
tql766
Send Email Send Email
 

Xa Va … Xa Va Toa
Trich Tu: CD Phan Trac Ca, Tran Quan Long trinh bay, Hoa Am: Quoc Toan
http://www.nhacsingheo.com/PhanTracCa/XaVaXaVaToa.html


#298 From: "Tran Quan Long" <tql766@...>
Date: Tue Apr 3, 2007 12:25 pm
Subject: Kho^ng Khi' Vie^.t Nam Tu+. Do
tql766
Send Email Send Email
 

Khong Khi Viet Nam Tu Do
(Trich Tu: CD Phan Trac Ca – Hoa Am: Quoc Toan)
Tran Quan Long trinh bay
http://www.nhacsingheo.com/PhanTracCa/KKVNTD.html


#299 From: "Van Truc Le" <vantrucle@...>
Date: Fri Apr 6, 2007 12:44 am
Subject: CHXHCN VN Tu+. Do, Ha.nh phu’c ???
vantrucle
Send Email Send Email
 
#300 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Sat Apr 7, 2007 9:58 pm
Subject: Le^~ ho^.i QUAN A^M tai Houston Texas Hoa Ky
tql766
Send Email Send Email
 



LỄ HỘI QUAN ÂM
LỜI CẦU NGUYỆN CHO MUÔN LOÀI KHẮP MƯỜI PHƯƠNG BA CƠI
Diệu Trân
 
          Tin khí tượng cho biết, trong những ngày cuối tuần của tháng ba, từ thứ sáu 30 đến chủ nhật mồng một tháng tư năm 2007, tại thành phố Houston và các vùng phụ cận sẽ có băo giông, gió lớn và mưa đá!
          Đây chính là thời điểm Lễ Hội Quan Âm lần thứ sáu, được tổ chức tại Chùa Việt Nam, thành phố Houston! Theo những thông báo được phổ biến th́ hầu hết chương tŕnh trong hai ngày Lễ Hội đều được tổ chức trong khuôn viên chùa, nghĩa là diễn tiến ngoài trời! Tin khí tượng dự báo làm rung động ḷng Phật tử khắp nơi đang hướng về Lễ Hội, nhưng điều đó không ngăn được những chuyến bay khắp năm châu đang tới, những chuyến xe đang trực chỉ Houston, trên đó, giữa những người ngoại quốc, Phật tử Việt Nam nh́n nhau là biết đang cùng trên đường về dự Lễ Hội tại chùa Việt Nam, Houston.
          Tôi đáp chuyến bay Continental đến Houston trưa thứ năm 29 tháng ba, trước Lễ Hội một ngày. Mây đen vần vũ khắp trời báo hiệu tin khí tượng nhiều phần sẽ đúng cho cho hai ngày sắp tới! “Cúi lạy Mẹ Quan Âm đại từ đại bi, xin Mẹ xót thương che chở cho trời quang mưa tạnh để đàn con về quỳ dưới chân Mẹ dâng lời cầu nguyện hoàn tất được trọn vẹn không khí uy nghiêm, tôn kính trong đại lễ này”
          Tôi có thể chắc chắn là không một Phật tử nào trên đường về dự lễ mà không thành kính dâng Mẹ lời cầu xin này.
          Xe của ban vận chuyển, chùa Việt Nam đưa chúng tôi về chùa lễ Phật trước khi về khách sạn. Từ trước một block đường, chúng tôi đă nh́n thấy Tôn Tượng Mẹ Quan Âm sừng sững uy nghiêm giữa bầu trời bao la. Tôi thường chỉ được chiêm ngưỡng tôn tượng Mẹ Quan Âm giữa những hồ sen nhỏ. Đây là lần đầu được quỳ dưới chân Mẹ, mà phải cố ngước mắt nh́n vút lên trời cao, tưởng như phải nh́n qua gió, qua mây mới thấy được đôi mắt “Từ nhăn thị chúng sanh”. Tôi quỳ dưới chân Mẹ, cảm nhận toàn thân đang rung động v́ tấm ḷng đại từ đại bi của Mẹ, bao đời bao kiếp đă tầm thanh cứu khổ muôn loài.
          Bỗng nhiên, bao lo lắng về tin giông băo chợt tiêu tan. Mẹ đứng kia, uy nghiêm, linh hiển giữa không gian lồng lộng, ánh từ-quang tỏa sáng mênh mông vô tận thế kia, làm sao mà mây đen kia có thể xuống thấp hơn để tạo thành giông băo?
          Tôi úp mặt thật lâu dưới chân Tôn tượng Mẹ, thầm mỉm cười với tiếng gió hung hăn phần phật trên ngọn những cây dừa dọc suốt con đường từ ngoài cổng vào tới chánh điện. Con đường lát gạch thẳng tắp từ Chánh điện ra tới hồ Hương Thủy, tối mai, sẽ đón từng bước chân của hơn 160 Chư Tôn Đức Tăng Ni hướng dẫn hàng ngàn Phật tử thực hành hạnh nguyện Tam Bộ Nhất Bái, th́ giông băo làm sao tràn tới được.
          Tôi vững tin như thế trên đường về khách sạn. 
          Sáng thứ sáu 30 tháng ba, 2007, ban vận chuyển của chùa lại tới nhưng khách sạn đón Phật tử từ xa về dự lễ. Cảnh chùa rộn rịp hẳn hơn hôm qua. Từng đoàn xe lớn, nhỏ, vào ra, kẻ lên, người xuống. Bạn đạo khắp nơi không hẹn mà gặp, tay bắt mặt mừng. Các tiểu ban của chùa, ai lo việc nấy. Ban trai soạn bận rộn xắt gọt, nấu nướng. Các gian hàng bắt đầu chuẩn bị để có thể phục vụ khách thập phương từ chiều nay. Sân khấu lộ thiên đang được trang trí những phần chót. Hoa đèn rực rỡ giăng ngang hai bên hàng dừa cao vút. Mây xám vẫn  xuống thấp, gió nổi bốn bề như không ảnh hưởng ǵ tới những Phật-sự đang diễn tiến. Những Phật tử đến từ xa như chúng tôi, không được giao nhiệm vụ chính thức ǵ, bèn rủ nhau t́m chổi, quét thật kỹ suốt dọc đường Tam Bộ Nhất Bái tối nay. Trong lúc làm việc, thỉnh thoảng chúng tôi được thấy Thầy viện chủ và Thầy trưởng ban tổ chức Lễ Hội. Quư Thầy thong dong kiểm điểm công việc ở từng nơi, từng phần. Thầy Nguyên Hạnh tươi tắn, nhẹ nhàng, c̣n Thầy Nguyên Đạt th́ không khi nào thiếu nụ-cười-Di-Lặc trên môi.
          Từ 4 giờ chiều thứ sáu th́ ban trật tự đă phải làm việc bận rộn hơn, đă cần sự tiếp tay của cảnh sát địa phương để điều động xe cộ vào, ra. Chư Tôn Đức khắp nơi đang được rước về, mầu y vàng xen lẫn mầu áo lam, rộn ràng cả một khu phố.
          Lễ Hội Quan Âm năm nay được sự chứng minh của ba vị Ḥa Thượng: Đại lăo H.T Thích Tâm Châu, thượng thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên thế giới. Đại lăo H.T Thích Hộ Giác, Phó viện trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Chủ tịch Hội đồng điều hành GHPGVNTH hải ngoại tại Hoa Kỳ. Đại lăo H.T Thích Chơn Điền, viện chủ chùa Quan Âm, Texas, cùng với hơn 160 Chư Tôn Đức Tăng Ni đến từ khắp nơi. Xa từ Đài Loan, Đài Bắc như quư Thầy Thích Thiện Tâm, Thích Nhuận Ṭan, Thích Thiện Nhẫn. Từ Miến Điện như Venerable Nagasena. Từ Canada có T.T. Thích Tâm Ḥa, viện chủ trung tâm Phật Giáo-chùa Pháp Vân, ĐĐ Thích Ẩn Long, tu viện Bửu Hưng, Vancouver. Các tiểu bang tại nội địa Hoa Kỳ th́ hầu như không tiểu bang nào không có đại diện tới dự lễ. Từ Florida có qúy Thượng Tọa Thích Nhật Trí, Thích Minh Chiếu, chùa Pháp Vũ, Đại Đức Thích Chân Văn, quư sư-cô Thích nữ Liễu Hà, Thích nữ Tịnh Thanh, chùa Báo Ân. Từ California có TT Thích Minh Tuệ, quư ĐĐ Thích Thiện Duyên, chùa Kim Quan, Thích Pháp Chơn, viện chủ trung tâm tu học Liễu Quán, Thích Nhựt Châu, chùa Việt Nam LA, Thích Quảng Bảo, Tu viện Kim Sơn, Thích nghiêm Thiện, chùa Phô Đà, Thích Nhuận Hành, chùa An Tường, Thích Tín Măn và Thích Thiện Ngộ, chùa Vạn Hạnh, quư sư-cô Thích nữ Như Thiện, Thích nữ Cảnh Liên, Thích nữ Phước Quang, Thích nữ Quảng Thành, Thích nữ Tâm Từ, Thích nữ Diệu Liên …v… v…Các phái đoàn về tham dự cũng vô cùng đông đảo như từ California có phái đoàn Tổng Hội Cư-sỹ Phật tử, chùa A Di Đà, An Lạc Viện Tự, chùa Đức Viên, chùa Vạn Hạnh. Từ Canada có phái đoàn Phật tử chùa Thuyền Tôn, tu viện Bửu Hưng. Từ Florida có phái đoàn Phật tử chùa Báo Ân, chùa Bồ Đề, chùa Diệu Đế. Từ Lousiana có phái đoàn Phật tử chùa Tam Bảo, chùa Tịnh Độ, chùa Từ Bi. Từ Kansas, Arkansas, Georgia, Oklahoma, NewYork …v… v…  tất cả đều như muôn sông đang chảy về biển, mà kẻ viết bài không thể nhớ hết, xin quư ngài niệm t́nh tha thứ.
          6:30 chiều thứ sáu 30 tháng ba năm 2007, Phật tử đă vân tập trước sân, đứng dọc hai bên bồn gạch từ Chánh điện ra tới hồ Hương Thủy. Tôi không thể ước lượng số người đang có mặt. Chỉ thấy diện tích mênh mông của chùa Việt Nam không c̣n một chỗ trống, nhưng người vẫn tới, xe vẫn vào! 6:45 ba hồi chuông trống Bát Nhă âm vang, cung thỉnh Chư Tôn Đức Tăng Ni đến trước tiền đường. Mọi xôn xao đều ngưng bặt. Chỉ phút giây, tiền đường trống trải đă bát ngát mầu y vàng rực, khác chi phẩm Tùng Địa Dũng Xuất trong kinh Pháp Hoa.
          Theo đúng chương tŕnh, 7:00 khai chuông cầu nguyện. Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới, khắp nơi u tối mọi loài nghe, tiếng chuông vang động mời gọi muôn người, muôn loài cùng bước về nương tựa nơi trái tim từ bi của Mẹ Hiền Quan Âm.
          Trước sự chứng minh và gia bị của Tam Bảo mười phương và sự hiện diện của Chư Tôn Đức Tăng Già cùng đông đảo hàng Phật tử khắp nơi, Đại lăo Ḥa thượng Thích Chơn Điền đă tuyên đọc Pháp-từ, khai mạc Lễ Hội Quan Âm, ngày hành hương và cầu nguyện lần thứ sáu của lễ Hội. Đoàn lân của GĐPT Huyền Quang tưng bừng nhưng cũng vô cùng cung kính chào mừng Chư Tôn Đức. Ngay khi đoàn lân nhịp nhàng uốn lượn theo tiếng trống bập bùng th́ một cánh chim bồ câu bay ngang. Giờ này, loài chim thường đă về tổ, sao một cánh chim c̣n quanh quẩn Lễ Hội? Không nhưng c̣n đây mà cánh chim đó bay thấp một cách bất thường, gần như xà xuống đoàn lân trước Chư Tôn Đức khiến có những Phật tử phải thốt lên: “Ḱa, con chim!” Có ai kịp thấy nhánh ô-liu ngậm ngang mỏ con bồ câu về dự lễ hay không?
          Khi TT Nguyên Hạnh viện chủ chùa Việt Nam Houston lên máy vi âm hướng dẫn cách thức hành hương Tam Bộ Nhất Bái th́ gió tám hướng mười phương nổi lên ào ạt khiến những ngọn dừa như múa hát, những giây hoa đèn đong đưa như vũ điệu hoa đăng. Khung cảnh uy nghiêm, cùng với sự trợ lực của gió đă vô cùng linh động. Hơn 160 vạt y vàng chậm răi từng bước trong tiếng niệm “Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát” hướng dẫn hàng ngàn tà áo lam theo sau trong trật tự và trang nghiêm tuyệt đối. Từng bước chậm, mỗi bước đủ một tiếng niệm để sau mỗi ba bước là tiếng chuông điểm cho đoàn hành hương đều quỳ xuống, lạy một lạy.
           Cực kỳ hoành tráng.
          Cực kỳ trang nghiêm. 
          Cực kỳ rực rỡ. 
          Mỗi ba bước, sau tiếng chuông, úp mặt xuống nền gạch ẩm, tôi cảm nhận hồng ân Chư Phật đang rải Hoa-Từ cho đàn con c̣n ch́m ngập trầm luân. Trời không mưa mà nước mắt cứ tuôn rơi, trái tim thổn thức ̣a theo từng tiếng Nam Mô.
          Đoàn hành hương theo tinh thần hạnh nguyện của Chư Phật đă dâng trọn vẹn thân, tâm, ư trong từng bước chân, từng quỳ lạy, từ chánh điện ra tới hồ Hương Thủy. Hàng trăm hoa đèn được thắp lên để chuẩn bị cho Hội Hoa Đăng, thả đèn xuống hồ Hương Thủy cùng với lời nguyện: “Hoa này là Hoa Từ Bi. Đèn này là Đèn Trí Tuệ, chúng con xin quỳ dâng lên Mẹ hiền Quan Thế Âm lời cầu nguyện cho thế giới ḥa b́nh, chúng sanh an lạc”.      Chư Tôn Đức Tăng Ni thiền hành quanh hồ, chờ đoàn Phật tử đông đảo phía sau tề tựu đủ th́ gịng nhạc niệm Quan Thế Âm nhẹ nhàng ngân lên, bắt đầu lễ thả hoa đăng.
          Thoáng chốc, mặt hồ lung linh rực rỡ hàng trăm đóa sen tỏa sáng. Từ cầu Hương Thủy, nữ Phật tử Hà Thanh cất tiếng xưng tán Nhành Dương Cứu Khổ, nam Phật tử Gia Huy thành kính thổn thức: “Mẹ là Phật, đại nguyện hóa thân. Mẹ là Hoa, hoa đẹp tuyệt trần. Mẹ là nước, nước nguồn vô tận. Cuộc đời Mẹ chỉ biết hiến dâng.”
          Cùng với tiếng hát, hoa đèn cứ từ từ thả xuống, lời nguyện chí thiết dâng lên. Trên cao, Mẹ Quan Âm mỉm cười nh́n xuống, nhành dương liễu như lay động trên búp tay từ ái, xoa dịu bao tai ương sóng gió của trần gian khổ lụy …
          Đêm Hội Hoa Đăng và hành hương Tam Bộ Nhất Bái kết thúc trong rực rỡ hoa đèn ḥa vào âm thanh trầm hùng của chiêng trống Bát Nhă cung tiễn Chư Tôn Giáo Phẩm Tăng Ni trở về Phật-điện.
          Lúc này không khí các gian hàng mới tấp nập. Mọi người hoan hỷ nếm các món chay tuyệt hảo được xào nấu tại chỗ, từ đại diện các chùa, ghé thăm các kệ sách với những tác phẩm dịch thuật công phu của Chư Tôn Đức, những tập san từng có mặt nhiều năm trong mục đích hoằng pháp, chia xẻ kinh nghiệm tu tập như TS Pháp Luân, TS Nghiên Cứu Phật Học được Phật tử hoan hỷ đón nhận. Lời hỏi han, chào đón xen lẫn tiếng dặn ḍ: “Mai dậy sớm dự lễ Đạo Tràng Linh Hiển Ngàn Mắt Ngàn Tay nhé! 7 giờ sáng là bắt đầu rồi đó!” 
          Trên đường về khách sạn, gió cuồn cuộn, ào ạt hơn, trăng đi vắng và mây đen thật thấp! Chúng tôi đi ngủ trong hồi hộp và cùng bị sấm chớp long trời lở đất đánh thức dậy lúc 5 giờ sáng. Ai nấy vội vă sửa soạn rồi cùng tập họp tại pḥng khách ở tầng dưới. Qua khung cửa kính, không phải trời chỉ đang mưa mà đây chính thực là giông, là băo, là phong ba, nước tuôn như thác, gió rạp ngàn cây, sấm chớp nổ vang lóe sáng đông tây nam bắc! Chúng tôi, không ai c̣n ḷng dạ đâu mà dùng điểm tâm dù khách sạn đă chu đáo nhiều món. Mưa băo hung hăn như thế này, chỉ ra khỏi cửa khách sạn để lên xe cũng không nổi, nói chi đến được chùa và hành lễ, dù theo chương tŕnh th́ Đạo Tràng Linh Hiển Ngàn Mắt Ngàn Tay được cử hành trong chánh điện.
          5:30 rồi 6:00, h́nh như giông băo đang cứ theo kim đồng hồ nhích dần mà tạnh dần. Đây là sự t́nh cờ của trời đất ư? Không! Tôi không tin thế! Sự t́nh cờ không thể nhịp nhàng tiếp nối khít khao như thế. Với trời đó, mây đó th́ giông băo đă phải ập xuống từ hôm qua. Nhưng Mẹ Quan Âm đă khoan thai ngăn lại để đàn con Mẹ hoàn tất hành hương Tam Bộ Nhất Bái và thả Hoa Đăng cầu nguyện. Mẹ nh́n con bằng ngàn mắt, Mẹ giữ băo bằng ngàn tay cho đến sáng sớm nay. Nhưng rồi trời đă quang, mưa đă tạnh trước giờ các con của Mẹ về chùa dự lễ. Th́ ra, mưa gió này chính là lời dạy trong phẩm Phổ Môn:
          “Ḷng Bi như sấm động
          Ư Từ tựa dường mây
          Cam Lồ mưa pháp dội
          Đoạn tắt lửa năo phiền”
          Nguồn nước Từ Bi vô lượng vô biên đang tràn qua mọi nẻo mà đến với mọi người, mọi loài. Từ những người thương yêu hay ghét bỏ. Từ những người trong tâm con đến những người cách xa con. Từ những loài lớn đến loài nhỏ. Từ những loài con thấy đến những loài con không thấy. Từ phương Đông phương Tây đến phương Nam phương Bắc, tất cả đều là anh em ruột thịt. Chúng sanh đau khổ là chúng con đau khổ. Chúng sanh an vui là chúng con an vui. Nguyện không ai c̣n làm hại ai. Nguyện không loài nào c̣n ác tâm với loài nào. Xin cho tất cả được sống trong an toàn, hạnh phúc. Xin cho tất cả được thoát khỏi bệnh tật, lo âu, phiền năo.
          Ba tiếng chuông ngân vang sau lời cầu nguyện nối tiếp tiếng hát vút cao giọng nữ Phật tử Ngọc Hạ, vinh danh Mẹ hiền Quan Âm ngàn mắt ngàn tay
          “Mắt người nhỏ lệ, nhỏ lệ thương đời.
           Ngàn mắt ngó xuống cơi ḷng vô chung”
          Tôi cảm nhận luồng từ-quang của Mẹ rất gần, rất hiện thực, như ngay  đây, ngay chánh điện này, nơi hơn 160 Chư Tôn Đức Tăng Ni đang đồng cất tiếng trầm hùng tụng Thủ Lăng Nghiêm rồi hướng dẫn hàng ngàn Phật tử tụng 3 biến Chú Đại Bi trước khi phẩm Phổ Môn được phát tới từng người để tất cả được b́nh đẳng cất tiếng:
          “Tịnh Thánh Quán Thế Âm
          Là nơi về nương tựa
          Giữa nạn khổ chết chóc
          Chứa tất cả công đức
          Mắt Từ nh́n chúng sanh
          BiểnPhước lớn vô cùng
          Nên con xin đảnh lễ
          Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
          Lục tự đại minh chơn ngôn
          Án Ma Ni Bát Di Hồng”
          Lời xướng tụng Tam Quy và hồi hướng của Chư Tôn Đức c̣n ngân trong tiếng chuông mầu nhiệm th́ giọng hát nam Phật tử Gia Huy vút lên bài Kinh Pháp Hoa:
          “Đêm tụng kinh Pháp Hoa
          Thấy vang động tinh hà
          Địa cầu vừa tỉnh thức
          Ḷng đất bỗng đơm hoa
          Đêm tụng kinh Pháp Hoa
          Bảo Tháp hiện chói ḷa
          Đất trời Bồ Tát hiện
          Tay Phật trong tay ta
          Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
          Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
          Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh …”
          Tiếng Nam Mô ngân vang trong từng cơi ḷng hướng về Chư Phật, kết thúc chương tŕnh Đạo Tràng Linh Hiển Ngàn Mắt Ngàn Tay, hoàn măn tốt đẹp trong sự che chở kỳ diệu của Mẹ Quan Âm giữa đất trời gió mưa tơi tả!     
           Mưa đă tạnh. Gió đă ngừng v́ sau khi thọ trai là chương tŕnh sinh hoạt dân gian ngoài trời với các tiết mục: Thi quốc phục thiếu nhi, tuyển Pḥ Mă và Công Chúa, Thả Thơ, Thư Pháp, biểu diễn múa lân … v… v… Tay Mẹ lại giang rộng, ngăn gió mưa nên không một chương tŕnh nào bị trở ngại. Muôn ḷng vững tin sự gia bị của Mẹ trong lễ chính thức 6 giờ chiều nay.
          Quả như thế. Từ 5 giờ chiều thứ bẩy 31 tháng ba, Phật tử đă vân tập về, tràn ngập khuôn viên chùa, tưởng như người người phải đứng sát bên nhau, chờ cung nghinh Chư Tôn Đức cử hành Lễ Hội chính thức. Tới thời điểm, ba hồi chuông trống Bát Nhă lại ngân vang. Bước ra tiền đường là Tam Chứng Minh Sư, theo sau là Chư Tôn Đức Tăng Ni. Khi quư Ngài an tọa, đại vũ khúc “Chuyển Pháp Luân” do GĐPT cúng dường để chào mừng Lễ Hội chính thức. Điệu vũ chuyển từ bài thơ Pháp Âm Bồ Tát của thi sỹ Phật tử Tuệ Kiên. Lời thơ thiết tha quyện vào gịng nhạc trầm hùng diễn đạt qua những giải lụa mầu uyển chuyển từ bao thanh nữ:
          “Đây lời chuyển Pháp âm xa
          Cất cao lên, người nghệ sỹ
          Cùng điệu nhạc ru lời ca
          D́u tâm thức vượt Ta-bà
          Vượt gịng sinh tử bao la
          Chùm che khắp giải ngân hà
          Chư thiên ơi! Chư thiên ơi!
          Vang diệu âm Càn-Thát-Bà
          Chúng sanh ơi! Loài người ơi!
          Hăy nghe đây, lời thiết tha
          Hăy mau mau về nương Phật
          Con đường hạnh phúc nở hoa
          Đường Quan Âm, đường Thế Chí
          Pháp Âm diệu dụng phi thường
          Đường Chân Như ngời ánh sáng
          Từ Bi Chư Phật mười phương
          Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát”
          Đoàn lân theo tiếng trống rộn ràng dẫn đầu, tiến về lễ đài rực rỡ hoa đèn trên hồ Hương Thủy. Đoàn dâng hoa trong lễ hội này không phải là thanh thiếu niên Phật tử mà là quư Chư Tăng. Thật là một h́nh ảnh trang trọng chưa từng thấy! Từng bước, quư ngài tiến lên lễ đài, rực rỡ dưới ánh nến lung linh, tàn lọng muôn mầu. Hàng Phật tử cung nghinh hai bên, chắp tay, cúi đầu cung kính. Đông đảo như thế mà những phút cần trang nghiêm th́ rất mực trang nghiêm, rất mực trật tự. Quư Chư Tôn Đức Tăng an vị trên lễ đài, quư Ni nghiêm túc đứng ṿng quanh hồ. Muôn con mắt đều ngước lên Tôn Tượng Mẹ Hiền Quan Âm khi lời cầu nguyện dâng lên.
          Mây xám lặng lẽ trôi. Và ḱa! Vầng trăng non dịu dàng hiện ra, soi tỏ lễ dâng hoa thập phần tráng lễ trước đài sen Tôn Tượng. Và rồi, giữa hồ, ngọn lửa thiêng được đốt bùng lên! Lửa Từ Bi vút cao như thách đố gió mưa đe dọa. Và giọng hát mạnh mẽ của Phật tử Gia Huy lại vút lên:
          “Trong đêm tối bao la,
          Người ơi! Người hỡi!
          Một ngọn lửa thiêng bừng lên chiếu sáng
          Như mặt trời …
          Nam Mô Đức Phật Di Đà
          Lửa Từ Bi đă xóa nḥa khổ đau”
          Khi vừa xong lễ cầu nguyện chính thức th́ trời mới bắt đầu mưa nhẹ, thật nhẹ, phơi phới như mưa xuân. Ôi! Thật mầu nhiệm biết bao! Hàng ngàn bong bóng được thả tung bay cùng với pháo bông rực rỡ đầy trời. Bóng bay cao, bay cao như vũ khúc uốn lượn cùng mây trong khi tiếng chuông trống Bát Nhă rộn ră cung tiễn Chư Tôn Đức giáo phẩm về lại tiền đường dự chương tŕnh văn nghệ đặc sắc tại sân khấu lộ thiên được giàn dựng công phu từ công sức, tim óc của bao người con Phật thành kính cúng dường.
 
(source h́nh ảnh: phapvan.ca)
          Tôi không thể không chia xẻ niềm xúc động sâu xa khi biết rằng đại Tôn Tượng Mẹ Hiền Quan Âm cao 72 feet, lồng lộng giữa trời mây bao la kia được hoàn thành từ đôi tay nhỏ bé của một nữ điêu khắc gia, nay là sư-cô Viên Thuận, hiện an trú tu tập tại ni viện Viên Thông, Houston. Trước khi xuất gia, sư-cô là một nhà điêu khắc từng đạt những thành công sáng giá. Nhận lời thực hiện đại tôn tượng Mẹ Quan Âm, cô nghĩ, chắc cũng như đă từng tạc tượng bao bậc vĩ nhân khác. Nhưng công tŕnh càng gần hoàn tất, cô càng như nghe thấy âm thanh nào thôi thúc mỗi lúc mỗi mănh liệt. Thôi thúc ǵ, cô không rơ. Nhưng ngay khi những đường nét cuối cùng trên tôn tượng được hoàn chỉnh th́ diệu âm đó vỡ ̣a ra! Đó là sự dâng hiến trọn vẹn thân tâm cho Đạo Pháp. Cô lập tức xuất gia, nhận pháp danh Viên Thuận từ Sư-cô Thích nữ Thanh Lương, trụ tŕ ni-viện Viên Thông. Đại lễ khánh thành đại tôn tượng Mẹ Hiền Quan Âm năm 2001, tức là cô đă xuất gia được sáu năm! Thật là công đức vô lượng vô biên. Từ khi t́nh cờ được biết, gặp sư-cô, tôi cứ ngẩn ngơ nh́n đôi bàn tay nhỏ bé đó, cố gắng cũng không tưởng tượng nổi là những búp măng mềm mại kia đă tạo nên tôn tượng hùng vĩ, không chỉ ở kích thước mà v́ trọn vẹn Tâm Đạo đặt vào nên bất cứ ai, quỳ dưới chân Mẹ đều cảm nhận được ánh từ-quang bát ngát không gian.
          Hàng Phật tử chúng con xin cúi đầu ghi ơn công đức Chư Tôn Đức Tăng Ni khắp nơi, xin cảm tạ muôn tấm ḷng đă âm thầm đóng góp bấy lâu để Lễ Hội Quan Âm, ngày Hành Hương và Cầu Nguyện năm thứ sáu được hoàn măn trong tuyệt đối tốt đẹp.
NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT
 
                                                                   Diệu Trân
                                                (Như-Thị-Am, ngày đầu tháng tư 2007)    
                                              
----o0o---
Tŕnh bày: Tịnh Tuệ
Cập nhật: 4-2007

Food fight? Enjoy some healthy debate
in the Yahoo! Answers Food & Drink Q&A.


We won't tell. Get more on shows you hate to love
(and love to hate): Yahoo! TV's Guilty Pleasures list.

#301 From: Van Truc Le <vantrucle@...>
Date: Sun Apr 8, 2007 11:44 pm
Subject: Re: Kho^ng du lich, kho^ng mua ha`ng ho'a, kho^ng gu+?i tie^`n => CSVN =die
vantrucle
Send Email Send Email
 
"-Du+o+`ng -Di Kho', Kho^ng Kho' Vi` Nga(n So^ng Ca'ch Nu'i
Ma` Kho' Vi` Lo`ng Ngu+o+`i Nga.i Nu'i E So^ng "
 
Ca'i bo.n ba'n nu+o+'c, luo^`n tro^n ... thi` va^~n luo^`n tro^n tu+` nga`y cha sinh, me. -de?
 
-Du+o+.c CSVN BI.T MIE^.NG ba(`ng ca'ch -dem RE? nhu+? ve^` VN -de^? a(n ca'm heo, thi` co' chuye^.n gi` la.?
 
CSVN MO+ co' the^? BI.T MIE^.NG ca? the^' gio+'i?
 
Đả Đảo Cộng Sản Việt Nam !!!
Trả Tự Do cho LM Nguyễn Văn Lư !!!
 
 
tran quan long <tql766@...> wrote:
KG Quy Vy
KG Tan Tran
 
Thi` cu~ng ddanh tho^i,
Kho^ng le chi co DOGS moi nghi nhu TQL sao?
Tran Trong
TQL

Tan Tran <tantrantanhoi@yahoo.ca> wrote:
Ông Trần Quan Long  . Ba Không có lẽ cho ḿnnh ông theo thôi, chứ t́nh h́nh tôi thấy thiên hạ c̣n có nhiều cái thèm muốn lắm ông ạ !  V́ cái ǵ ở quê nhà cái ǵ cũng "rẻ" Ông thử nh́n người Việt hàng xóm nhà ông đi ăn tết con heo đă trở lại Hoa Kỳ chưa ? Riêng ông hàng xóm cạnh nhà tôi ông ta  ở ăn tết hết  Năm tháng mới về để "renew" cái khỏan ...ai ai , ông ta sợ ở lại VN. lâu đám "bất nhân " Xă hội nó xẻo mất khỏan này th́ phí qúa  . Nếu không có khỏan này chắc ông phải ăn tết qua trọn mười tháng mới trở lại kia đấỵ TT

tran quan long <tql766@yahoo.com> wrote:


Tran Quan Long <tql766@yahoo.com> wrote:
To: DIENDANNHACSINGHEO@yahoogroups.com
From: "Tran Quan Long" <tql766@yahoo.com>
Date: Mon, 02 Apr 2007 22:31:54 -0000
Subject: [DIENDANNHACSINGHEO] Kho^ng du lich, kho^ng mua hang hoa, kho^ng gu+?i tie^`n => CSVN =die


Ba Khong Triet Tam Vo
Trich Tu: CD Phan Trac Ca
Tran Quan Long trinh bay; Quoc Toan hoa am

http://www.nhacsingheo.com/PhanTracCa/baKhongTrietTamVo.html
.
,_._,___


Don't be flakey. Get Yahoo! Mail for Mobile and
always stay connected to friends.


Sucker-punch spam with award-winning protection.
Try the free Yahoo! Mail Beta.

#302 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Wed Apr 11, 2007 3:48 am
Subject: LM Nguyen Huu Le va phong trao tra ten Thanh Pho Saigon
tql766
Send Email Send Email
 
TinParis. Chúng tôi cho đăng lại bài viết dưới đây trích ra từ Nguyệt san Sự Thật số 5 tháng 5 năm 1995 trang 2. 
Tác giả HVT đă nêu lên " Hội chứng tu sĩ " cho rằng : Những người CS được gọi là "tiến bộ "  như Bùi Tín, Dương Quỳnh Hoa, Dương thu Hương chỉ kết án những kẻ " cầm quyền hiện tại, chứ chưa bao giờ kết án Hồ chí Minh. Mặt khác, tác giả c̣n đề nghị với những ai chủ trương " Đối Lập " với CSVN  hăy đ̣i hỏi CSVN thực thi 3 việc nhỏ sau đây ( không có gây cảnh núi xương sông máu ǵ đâu ! ) : 1- Đổi tên Thành Phố HCM trở lại là thành phố Saigon - 2- Hủy bỏ tất cả những bức tượng HCM - 3-Phá bỏ lăng HCM . Có được như thế rồi hảy nói đến chuyện ḥa giải và Đoàn Kết Dân tộc.

TinParis xin  tặng  Lm Nguyễn hữu Lễ bài viết nầy mặc dù đă có cách đây 12 năm rồi !

 


8:00? 8:25? 8:40? Find a flick in no time
with theYahoo! Search movie showtime shortcut.

#303 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Fri Apr 13, 2007 2:55 am
Subject: Su+ O^ng Nha^'t Ha.nh ddang ddo^'t ngo^i nha` Cha'nh Pha'p
tql766
Send Email Send Email
 
Sư Ông Nhất Hạnh
Đang Đốt Ngôi Nhà Chánh Pháp
Không Hóa

Vài lời của Diễn Đàn Quốc Tế: Không Hóa là Pháp Danh của một Phật tử và nhà ái quốc dấn ḿnh cho đại nghiă Dân Tộc, quyết sống chết với bọn phá Đạo hại Đời đang bung xung làm tay sai cho VC phá hoại Chánh Pháp và giúp sức cho CSVN tiêu diệt Giáo Hội truyền thống PGVNTN\. Xin Phật tử và Đồng Bào theo dơi kỹ bài viết về chuyến "GIẢI OAN" mới đây tại VN của TNH\.

1) Dẫn Nhập:
Được biết, Sư ông Thích Nhất Hạnh xuất thân từ giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất (GHPGVNTN), và đă được Giáo hội này gửi đi du học tại Nhật bản vào thập niên 60\. Sau biến cố
30/4/75, ông sống tại Paris, thân cận với một người nữ phụ tá, mở ra Làng Mai (sau này đổi tên thành Làng Hồng) để dạy thiền cho đệ tử các tôn giáo khác nhau\... Khi nhắm mắt ngồi thiền, Sư ông dạy: Ai tin Phật th́ quán tưởng đến Bụt, ai tin Chúa th́ quán tưởng Giê Su, ai theo đạo Lăo th́ nghĩ đến Lăo tử, ai theo đạo vô vi th́ nhớ ông Tám, ai không đạo th́ theo dơi hơi thở, v.v\. (c̣n người theo đạo bà Thanh Hải th́ nhớ nghĩ đến ai đây\? - Vài thân hữu đă châm biếm)\. Phương pháp thiền hằm-bà-lằn này đă dẫn giới tham thiền Làng Hồng chứng đến thứ tầng "tẩu hoả nhập ma"; Hẳn đây là nguyên nhân làm cho Tăng chúng Làng Hồng đă không có ai nhận biết phải trái, phân biệt đúng sai và ư thức được sự việc "Giải Oan" là như thế nào, nên mới có cả một tổng số 200 người dẫn nhau về Việt Nam để không là giải oan mà là gây oán, sinh ra cảnh nồi da xáo thịt, lập bề thế cho đảng CSVN tiêu diệt GHPGVNTN mau chóng hơn\? Thiền Làng Hồng hoàn toàn khác hẳn với những môn phái Thiền truyền thống của Phật giáo Việt nam, ngược với Giáo chỉ "cát ái từ thân" của Đức Từ phu. Như Lai\. Giáo phái thiền của Sư ông, không gọi là đi xa, mà phải gọi là đi ngược lại truyền thống Phật giáo, v́ Sư ông đă lập ra Ḍng Thiền Tiếp Hiện, cho phép chư Tăng Ni có quyền lấy vợ lấy chồng (lập gia đ́nh), như bản Tcbc 2005-0-13 của Pḥng Thông tin Phật giáo Quốc tế đăng tải\.
Sư ông Nhất Hạnh vô cùng "tài giỏi"; "tài" xuất chúng,"giỏi" nhất trần gian; nên Sư ông thuyết tà th́ đệ tử cho là chánh, nói trái th́ đệ tử cho là phải, làm sai th́ đệ tử cho là đúng, vẽ màu đen th́ đệ tử bảo màu trắng\. Bởi vậy, cả hàng trăm Tăng Ni Phật tư? Làng Hồng, kể cả một số Phật tử tại Việt Nam đều răm rắp nghe theo mà không một giây phút đắn đo có cần phải nên suy nghĩ cân nhắc xem xét lại việc làm của ḿnh có lợi hay hại đối với Dân tộc và Đạo pháp\.
Đau đớn thay! Sư ông Nhất Hạnh vốn đă được GHPGVNTN cưu mang nâng đỡ\. Nhưng sau khi thành đạt, Sư ông đă hai lần mang 2 đội hùng binh xấp xỉ 200 người về thiết lập giàn pháo cho Việt Cọng đặt súng lên đài pháo nát ngôi nhà GHPGVNTN, hại hết Tăng Ni vốn hiện đang trung thành với Giáo hội\. Đây chẳng khác ǵ "đốt nhà Chánh pháp"\?
Thảm thương thay! Những giọt nước mắt đă cạn\. Có c̣n một giọt nước mắt nào sót lại, con xin khóc cho Đạo pháp được trường tồn, Thầy Tổ được an khang, GHPGVNTN mau thoát khỏi cơn thịnh nộ ba đào sóng dữ, để cho con cháu của chúng ta sau này c̣n có một ngôi nhà Giáo hội CHÍNH THỐNG và Đạo pháp chánh nghĩa Như Lai mà nương theo\. Chứ không thôi mai này, khi Chánh Pháp suy tàn, GHPGVNTN bị diệt, Phật giáo quốc doanh chuyên phụng sự ma vương bành trướng, và Phật giáo Việt Nam hoàn toàn bị nền "Phật giáo Tiếp Hiện" thay thế, th́ hiện tượng "người có tóc có vợ" đi lạy "người không tóc có vợ" qủa là khó coi lắm!
Sư ông Nhất Hạnh đă phạm liên tiếp sai lầm này đến sai lầm khác\. Vào năm 2001, sau vụ 9/11, hai ṭa lâu đài ở New York bị quân khủng bố giật sập, giết hại mấy ngàn dân vô tội, thay v́ Sư ông khuyên bảo bọn khủng bố hăy ngưng giết hại, th́ Sư lại đến New York kêu gọi dân chúng Mỹ nên chịu đựng, khoan dung tha thứ, không nên chống trả lại quân thù\. Đây là sai lầm thứ nhất\.
Sai lầm thứ hai của Sư ông là về Việt Nam phối hợp với đảng CSVN để "giải oan" cho những cái chết không oan, c̣n những kẻ bị oan th́ Sư ông không chú tâm để giải\. Thế là vào ngày 20/2/2007, Sư ông Nhất Hạnh cùng với cả hàng trăm Tăng thân làng Mai đă có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhất để chuẩn bị tổ chức "Thủy Lục Giải Oan B́nh Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn" giải oan cho vong linh trên toàn ba miền đất nước\. Đọc bức thư của Sư ông Nhất Hạnh viết tại Đạo Tràng Mai Thôn ngày 18 tháng 11 năm 2006 gửi mời "Ngài Chủ Tịch Nhà Nước" Việt Cọng về tham dự lễ Giải oan mà cảm thấy buốt dạ\.
Cả thế giới lên án chuyến đi "giải oan" của Sư ông Nhất Hạnh và Tăng thân làng Mai\. Cả thế giới tỏ vẽ bất b́nh và thất vọng về sự quyết định sai lầm trầm trọng của những kẻ tự cho ḿnh đă đạt đến mức cao nhất của "thiền định"\. Cả thế giới đang bồn chồn lo ngại cho tương lai của Phật giáo tại Việt Nam sẽ bị diệt vong trong nay mai dưới ách cầm quyền của Cọng sản sau chuyến đi "giải oan" này của Tăng Ni làng Mai\. Cả thế giới đang phấp phới âu lo cho sự tiếp tục chịu đựng giày ṿ của 80 triệu dân Việt Nam ngày càng gia tăng mạnh hơn dưới sức đàn áp của CSVN sau chuyến đi này của làng Mai sư ông Nhất Hạnh\. Cả thế giới đang phập phồng sợ hăi cho cảnh Tự do Dân chủ và Nhân quyền, vốn chưa bao giờ được ló dạng trên đất nước Việt Nam, rồi sẽ bị vùi dập chết tắt dưới guồng máy độc tài của CSVN sau chuyến đi "giải oan" này của làng Mai sư ông Nhất Hạnh\.
"Giải oan" đâu chẳng thấy, nhưng sự thật đă phơi bày: Sau khi Sư ông và Tăng thân làng Mai rời khỏi Việt Nam, oan nặng trĩu, oán chất đầy, những cánh cửa sắt ngục tù trên đất nước Việt Nam sẽ muôn đời khép kín\. Đây là dấu hiệu rơ ràng mà chúng ta sẽ thấy\.
Ở chùa Viên Giác, bang Oklahoma, trong ngày lễ Thượng tuần Rằm tháng Giêng, dưới sự tụ tập của đông đảo Phật tử, ngài Viện chủ, trú tŕ chùa Viên Giác đă nhận định chuyến đi của Sư ông Nhất Hạnh, đại khái như sau:
"Thầy (Trú tŕ chùa Viên Giác) đă mấy đêm trằn trọc suy nghĩ về chuyến đi giải oan của thầy Nhất Hạnh, cuối cùng Thầy quyết định phải nói rơ với các Phật tư?. Thiết thực nhất là trong lúc biết bao nhiêu nạn nhân ở Việt Nam bị đói khát bởi băo tố, th́ thầy Nhất Hạnh lại dẫn cả hai trăm người tốn kém biết bao nhiêu tiền bạc, mà lại không giúp những nạn nhân bị băo lụt đó\. Đó là chưa nói về tác hại chuyến đi của thầy Nhất Hạnh đối với Phật giáo và Giáo hội PGVNTN."
Thầy Viện chủ chùa Viên Giác đă nhấn mạnh rằng: "Ngày nào mà Thầy c̣n sống, và c̣n trú tŕ tại chùa Viên Giác này, th́ Phật tử của chúng ta đây phải phụng sư. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, và lư tưởng của chùa Viên Giác chúng ta là Đạo Pháp và Dân tộc, chứ không thể là "Đạo pháp và Cọng sản" được!"
Uy hùng thay! Cao cả thay! Phật tử xếp hàng ở dưới nghe lời hào hùng uyên diệu như thế phát sinh ra từ kim khẩu của ngài Viện chủ chùa Viên Giác mà cảm thấy trong ḷng ḿnh đang nở hoa, vui như hội pháo đầu xuân vang nổ\. Riêng tại tâm, con nghĩ rằng, trong sóng gió đảo điên, mầm danh lợi dễ bám, mà con thuyền Viên Giác chúng ta có một vị minh sư cầm lái rắn chắc kiên định như thế, th́ Phật tử lo ǵ bị lạc đường, sợ ǵ đi không đúng hướng của Thầy Tổ đă vạch ra! Con kính xin đảnh lễ ngài Viện chủ chùa Viên Giác với tấm ḷng kính phục nhất!
Cũng trong tinh thần vô úy của Phật giáo, ngài Ḥa thượng Huyền Tôn đă quá đau ḷng trước những thoái hóa mà Sư ông Nhất Hạnh và Sư bà Chân Không đang ngă vào chốn "tà ma ngoại đạo", nên ngài đă viết một bức thư gửi thẳng Thiền sư Nhất Hạnh, được trích đăng ở các webs (<
http://www.mauthan68.blogspot.com>), hoặc (<http://anhduong.net/binhluan/Feb07/HuyenTon-NhatHanh.htm)\>. Xin mời qúy vị vào đọc để thấy một Tu sĩ Phật giáo chân chính phê b́nh Sư ông Nhất Hạnh và Sư bà Chân Không\. Trong bức thư này, ngài Huyền Tôn đă cứng rắn, mạnh mẽ phản bác Sư ông Nhất Hạnh về ảo thuật dùng danh xưng "Bụt" để thay thế cho danh từ "Phật"\.
2) Luận bàn hai chữ "Giải Oan", Giáo sư Vơ Văn Ái giáo huấn:
Giải oan đúng nghĩa của nó là ǵ \? Đối tượng để giải oan là ai\? Chúng ta hăy lắng nghe Giáo sư Vơ Văn Ái phân tích trong cuộc phỏng vấn của Đài Phật giáo Việt Nam phát về Việt Nam hôm ngày thứ sáu 16.2.2007, như sau:
"Từ ngày có tin sau Tết sẽ tổ chức 3 Trai đàn Giải oan ở ba miền đất nước, th́ dư luận người Việt ở hải ngọai thông qua các báo đài hay trên Internet rất sôi động về hai chữ Giải Oan\. Theo tôi, vấn đề quan thiết và chính yếu trong lúc này là Giải Oan cho ai \? Những ông bộ đội Miền Bắc chiến đấu cho lư tưởng Quốc tế Cộng sản, cho các lănh tu. Lénine, Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh họ hy sinh thân xác cho lư tưởng này, họ ư thức cái chết của họ là cái chết của những anh hùng, liệt sĩ\. Họ đâu có chết oan \? Quân sĩ Việt Nam Cộng ḥa tham chiến trong lư tưởng bảo vệ tự do và dân tộc, cũng chết như những anh hùng giữ nước\. Họ có chết oan đâu \? Những người Vượt Biển ra đi lánh nạn độc tài Cộng sản, mong gióng lên trên thế giới Thông điệp tự do của một dân tộc bị áp bức\. Số người chết trên biển, theo Cao ủy Tị nạn LHQ, xuưt xoát một triệu người\. Người Vượt Biển ư thức về hành động Vượt Biển, về sứ mệnh tự do\. Nên họ cũng không chết oan, mà chết v́ rủi ro, tai nạn\.
"Trái lại, điều phải công nhận là có những cái chết oan ức suốt 60 năm qua trên đất nước ta\. Đó là những đảng viên thuộc các đảng phái quốc gia bi. Việt Minh cộng sản cố t́nh thanh toán, giết oan từ năm 1945\. Trong cuốn sách "Nhận định về những Sai lầm tai hại của Đảng Cộng sản đối với Dân tộc và Phật giáo", Ḥa thượng Thích Quảng Độ tả rơ cảnh Cộng sản thảm sát Sư phụ ngài, là Ḥa thượng Thích Đức Hải, nơi sân đ́nh làng Bặc ở tỉnh Hà Đông ngày 19.8.1945\. Ḥa thượng cũng nhắc tới vu. Cải cách Ruộng đất, với con số xử oan, giết oan 700.000 người, những hầm chôn tập thể ở Huế khi Cộng quân chiếm lĩnh thành phố gây ra\. Không riêng Ḥa thượng Quảng Độ, mà đă là người Việt Nam, th́ từ Bắc chí Nam không ai là không biết các thảm cảnh khủng khiếp này\.
"C̣n phải kể thêm những người bị hành quyết, bị chết ṃn, chết đói, chết v́ thiếu thuốc men trong hơn 150 Trại Cải tạo sau năm 1975\. Hai giáo sư người Mỹ, ông Karl Jackson và bà J\. Desbarats, ở Đại học Berkeley bên California đă làm một cuộc điều tra, nghiên cứu và lập thành hồ sơ Trại Cải tạo công bố năm 1984\. Theo hai vị này, th́ thời khoảng 1975 đến 1983, có 65.000 tù nhân bi. Công an cộng sản hành quyết trong các Trại Cải tạo\. Chưa kể đến số người chết v́ bệnh, v́ bị ngược đăi, v́ bị bị trúng ḿn khi đi gỡ ḿn theo lệnh quản giáo, hoặc số tù nhân tự tử\.
"Đấy, giải oan là giải oan cho những vong hồn bị bức tử như thế, bằng tấm ḷng thành thật và tinh khiết, với sự hộ tŕ trang nghiêm của một tập thể Tăng già\. Đây là chuyện linh thiêng, chứ không phải là chuyện đùa giỡn hay bốc đồng theo thế cuô.c\.
"Trong bản văn bi hùng độc nhất vô nhị của nước ta do thi hào Nguyễn Du sáng tác, có tên là Văn tế Thập loại chúng sinh, th́ mười loại chúng sinh kể ra trong bài văn tế, những người chết mà tôi vừa kể trên chỉ nằm trong hai phần nhỏ ở loại thứ mười mà thôi\. Lọai chúng sinh thứ mười trong bài văn tế của Cụ Nguyễn Du gồm có : kẻ ăn mày chết cô đơn, người tù chết trong ngục, hài nhi chết yểu và người chết v́ các nạn\. Đấy là mười loại chúng sinh thường thấy ở thời của Cụ Nguyễn Du, mà người Cộng sản gọi là " thời phong kiến"\. So ra, chúng ta phải giật ḿnh kinh hăi cho quá nhiều lọai người chết dưới triều đại Xă hội Chủ nghĩa ngày nay, nhưng các hạng người này chưa hiện diện trong Thập lọai chúng sinh ở thời đại cu. Nguyễn Du\. Tôi muốn mở ngoặc ở đây để nói tới quan điểm lịch sử sai lầm của một số sử gia Cộng sản ở Hà Nội\. Tại Việt Nam không hề có thời nào có thể gọi là thời phong kiến theo định nghĩa của từ phong kiến bên Châu Âu thời trung cổ\. Cũng không hề có chế đô. Nông Nô dưới thời Lư, thời Trần như sử gia Cộng sản Hà Nội học mót và a dua theo quan điểm Mác - Lê Nin\.
3) Phát huy nhận định của GS Vơ Văn Ái:
Đúng như Gs Vơ Văn Ái nhận định, những chiến sĩ hy sinh trong chiến tranh v́ phục vụ cho lư tưởng đấu tranh của họ th́ không thể gọi là chết oan\. Những người chết v́ lư tưởng t́m tự do trong hành tŕnh vượt biên vượt biển cũng không thể gọi là chết oan. Tóm lại, chết cho một lư tưởng nào đó, không gọi là oan uổng\. Thế th́, ai là những người đă chết oan, và vụ chết như thế nào gọi là chết oan một cách quy mô để buộc ḷng Sư ông Nhất Hạnh phải xuống ḷng "từ bi" đến nổi đích thân về tại Việt Nam để giải oan cho họ\? Nói về nỗi oan, trên Việt Nam hiện có hai lănh vực:
1) Nỗi oan của người chết: Như GS Vơ Văn Ái chỉ rơ trên, là những cái chết oan uổng của hàng triệu dân chúng miền Nam trong thời kỳ quân Cọng sản Bắc việt tiến quân xâm chiếm miền Nam 1945 - 1975\. Cái chết oan uổng của gần triệu người trong cuộc cải cách ruộng đất 1954 mà không kịp trăn trối do CS gây nên\. Cái chết oan uổng của hàng chục ngàn người trong những mồ chôn sống tập thể ở Huế vào năm Mậu Thân (1968) do CS gây nên\. Cái chết oan uổng của hàng ngàn trí thức gia trong vu. Nhân văn Giai phẩm do CS gây nên\. Cái chết của hàng chục ngàn binh sĩ Việt Nam Cọng ḥa trong các trại tù cải tạo do CS gây nên\. Tội ác này đă do chính bàn tay sắt máu của Cọng sản gây ra\. Những linh hồn này đă bị chết oan ức dưới những hành động gian ác của CS nên họ rất oán hận CS\. Muốn cho những linh hồn này được siêu thoát, tại sao Sư ông không kêu gọi đảng CSVN thiết lập những đài tưởng niệm tại Huế, Hà Nội, Sài G̣n, tại những nơi CS đă gieo oán, rồi bảo họ qùy xuống sám hối van xin những oan hồn ấy tha tội\? Bây giờ Sư ông làm công cụ cho CS đến "giải oan" cho họ, liệu oan ức của họ có được giải không, hay là oán của họ tăng thêm dần và đổ vào Sư ông nữa?!
2) Nỗi oan của người sống hiện tại: Đó là nỗi oan của bao nhiêu nhân sĩ v́ tương lai của đất nước và dân tộc mà nói lên nguyện vọng phải bi. CS bỏ tù, của bà con bị cướp đoạt tài sản không được cứu xét, của biết bao thiếu nữ bi. CS lừa đảo mang đi bán trinh, của biết bao người dân bị bắt bớ trái phép và ghép tội tùy tiện dưới luật rừng rú của CS, của những tôn giáo chỉ muốn sinh hoạt tôn giáo một cách thánh thiện ngoài ṿng kềm chế của Mặt trận Tổ quốc mà CS vẫn không cho, v.v\. Những người này bi. CS bắt bớ, đánh đập, hành hạ, tra trấn dă man, đành nhắm mắt chịu trận không c̣n pháp luật để chở che! Họ đang sống mà bị oan như thế, nếu chết th́ bị oan uổng đến dường nào\? Tại sao Sư ông không từ bi đi giải oan cho những người đang quằn quại một cách đau thương, oan ức, thống thiết dưới ngục tù bằng cách lật đổ chế độ bất nhân hoặc bảo chúng mau buông dao đồ tể \?
Suy cho cùng, Sư ông Nhất Hạnh tuy có "tâm" muốn chẩn bạt giải oan, nhưng "cái biết" của Sư ông cạn cơ.t\. Vả lại, Sư ông thường hay đóng chặt bốn cánh cửa pḥng Làng Mai để "thiền" trong bóng tối, nên thiếu ánh sáng, không phân biệt được chỗ đục chỗ trong, phe tà phe chính\. Thiền đă bao năm mà chưa tỉnh thức! Tóm lại, "tâm" tuy có, nhưng "thức" th́ không, nên "giải oan" những âm hồn không oan chẳng cần muốn giải, để gieo oán thêm cho 80 tiệu dân đang sống trong cảnh oan khiên là một việc làm vô ích!
V́ bất "thức", nên Sư ông và hai trăm đệ tử làng Mai đi về Việt Nam để giải oan mà không biết giải cho ai, đối tượng và nguyên nhân gây ra oan trái là ǵ\. V́ vậy mà đă phạm vào một trong "Tam sự bất tri" là "hành bất tri kỳ đạo"\. Đi, không biết ḿnh đi đường nào; hay nói cho rộng hơn là thực hành đạo Như Lai nhưng không biết ư nghĩa của đạo Như Lai\.
Bị đánh th́ đau\. Bị thọc léc th́ nhô.t\. Muốn khỏi bị đau, bị nhột th́ cản người ta đừng đánh và đùng thọc léc nữa\. Tại sao lại khuyên bảo nạn nhân cứ chịu đựng để cho kẻ ác cứ tiếp tục đánh thêm\? Do đó, muốn giải oan cho dân tộc th́ phải giật sập chế độ ác ma Cọng sản Việt Nam\. Đây là phương pháp duy nhất và thiết thực nhất! Không c̣n phương pháp khác để lựa chọn!
4) Kết luận:
Khổng Tử có dạy: "Chính trị đứng đắn thường chú trọng đến tiên sư\. Chính trị lưu manh hay chú trọng đến tục sư\. Nếu thiên hạ ai cũng quan tâm đến việc làm người th́ chính trị khó bịp; c̣n thiên hạ ai mà quan tâm đến việc làm tiền th́ chính trị tha hồ bịp."
Đúng vậy! Thuở xưa, nền móng chính trị đứng đắn ở thời Đinh Lê Lư Trần, thường chú trọng đến minh sư, tiên sư để làm cho đạo đức vinh hoa, quốc gia thăng tiến, muôn dân an lạc\. Ngày nay, chính trị lưu manh dối trá bất đạo như nhà nước Cọng sản Việt Nam thường hay chú trọng đến những kẻ tham danh tham vọng, dụng đạo cầu danh; v́ thế nên hạng tục sư, ma sư lấp ló khắp nơi để mua danh bán đạo \. Thậm chí những kẻ ở xa nửa qủa địa cầu cùng tranh nhau bu tới hành nghề bám lợi, dù biết rằng ló ra là bị phản bác khắp nơi nhưng dục lợi vốn đă làm mờ lư trí!
Đức Phật đă có dạy: Đừng có vội vă tin vào những điều Phật nói, mà hăy suy gẫm và so sánh với các lời của các vị giáo chủ khác xem thử nó có hợp lư và bổ ích không trước khi thực tâ.p\. Thế tại sao Sư ông không chịu bỏ ra một vài giây phút để suy luận về ư nghĩa "giải oan" và hiện trạng ở quê nhà xem coi chính sự việc của Sư ông làm có ư nghĩa ǵ, lợi hay hại, đối với 80 triệu dân quốc nội nhỉ\?
Đă được sinh ra làm người, ai cũng có một cái đầu và bộ năo tạng để suy xét cái ǵ đúng, cái ǵ sai để chấp nhận hoặc phản bác\. Tại sao ḿnh cũng có bộ óc như người ta mà lại để cho người ta sai khiến\? Cả hàng trăm Tăng thân làng Hồng chẳng chịu dùng đầu óc của ḿnh để quán xét, mà lại "bế quan năo tạng" của ḿnh, mù mờ tin theo kiểu "giải oan" bá đạo vụng về của Sư ông Nhất Hạnh, là một sự tiếp sức trong tiến tŕnh tiêu diệt Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính thống của CSVN\.
V́ Sư ông lợi dụng danh nghĩa để làm những việc di hại to tát lớn lao vô cùng đối với Chánh pháp và Giáo hội PGVNTN truyền thống, th́ bổn phận của tứ chúng Phật tử bắt buộc phải lên tiếng để cho Chánh pháp khỏi bị băng hoại, và GHPGVNTN măi được trường tồn\.
Hiện nay, phong trào xuống đường biểu t́nh của người Việt hải ngoại lan tràn rộng răi và mạnh mẽ trên khắp năm châu nhằm phản đối chính sách đàn áp tự do tôn giáo và đánh đập các nhân sĩ tại Việt Nam một cách quá ư khốc liệt trắng trợn quy mô; tiêu biểu nhất là các phong trào đấu tranh đ̣i chính quyền Hà Nội lập tức trả tự do cho các nhà đấu tranh dân chủ tại Việt Nam\. Thời gian và nguyên do chính đă tạo cho nhà cầm quyền Hà Nội thực hiện chính sách đàn áp sắt máu sau này, đều do George W\. Bush và Thích Nhất Hạnh gián tiếp tạo điều kiê.n\.
Tóm lại, bà con hải ngoại chúng ta đang cố sức t́m cách dập tắt ngọn lửa đàn áp nhân quyền dưới bàn tay sắt máu của Cọng sản, trong lúc đó Bush và Sư ông Thích Nhất Hạnh đổ thêm dầu vào lửa! Bạn thù đă phân minh, kính mong qúy thân hào nhân sĩ hăy mau gióng lên tiếng nói! Máu chảy ruột mềm bà con ạ! Ḿnh chính xuất phát từ người Việt, mang ḍng máu Việt, nếu ḿnh không lo cho Dân tộc Việt ḿnh th́ không ai lo cho cả\. Người ngoại quốc chỉ ngó đến cái lợi của họ mà thôi, đừng có trông mong ǵ đến họ! Người trục lợi nếu c̣n có lương tâm và t́nh người, th́ thân nhân ḿnh đỡ một chút; c̣n những người mất hết lương tâm và t́nh người, th́ hậu qủa thật khó lường!
Xin có thơ rằng:
Sư Ông Đi Giải Oan
Sư ông làng nọ qủa "từ bi"
Rễ ngọn bất minh hóa bị khi
Khủng bố, chẳng khuyên ngừng búa tể
Chúng hiền, lại bảo nín mồm đi
Oán thù đảng tạo, tội không trích
Tang tóc dân ôm, oan cái chi\?
Phải biết đâu là gốc tội lỗi
Bi mà thiếu trí, chẳng ra ǵ!
Không Hóa


Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#304 From: tran quan long <tql766@...>
Date: Fri Apr 13, 2007 3:53 am
Subject: "Do+ Da'y Vie^.t Co^ng" sa(' p tri`nh die^~n ta.i California (Tin cua Nguoi Viet online)
tql766
Send Email Send Email
 
“Duyên Dáng Việt Nam” sắp tŕnh diễn tại California
Thursday, April 12, 2007
SÀI G̉N 12-04 (TH) - Một phái đoàn 12 người của Cộng Sản Việt Nam đă đến California ngày Thứ Tư 11 Tháng Tư, 2007, để chuẩn bị đưa chương tŕnh “Duyên Dáng Việt Nam” đến tŕnh diễn một số nơi có đông người Việt cư ngụ trong tiểu bang nhân dịp Nguyễn Minh Triết, chủ tịch Cộng Sản Việt Nam, đến Mỹ vào Mùa Hè này.
“Các nhà tổ chức của ‘Duyên Dáng Việt Nam’ đến California ngày Thứ Tư để chọn lựa địa điểm tổ chức chương tŕnh ca nhạc dự trù sẽ diễn ra thời gian tới đây của năm nay.” Bản tin của báo Thanh Niên ngày Thứ Năm 12 Tháng Tư, 2007, loan báo như vậy.
Bản tin trên nói rằng phái đoàn gồm 12 người nhưng chỉ nêu tên 2 người là Trần Thị Thúy, phó chủ tịch Pḥng Thương Mại Và Công Nghiệp (VCCI), và Nguyễn Công Khế, tổng biên tập báo Thanh Niên và cũng là phó chủ tịch Liên Đoàn Thanh Niên Việt Nam, một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản Việt Nam nằm dưới “Mặt Trận Tổ Quốc.”
Bản tin trên nói “Phái đoàn đại diện gồm 12 người đến thăm các sân khấu và rạp hát tại San Francisco và San Jose trước khi đến rạp hát Kodak ở Los Angeles, địa chỉ 6801 Hollywood Blvd, một trong những địa điểm tŕnh diễn tốt nhất ở miền Nam California.”
Bản tin này cũng viết rằng “kể từ khi khai trương hồi Tháng Mười Một, 2001, rạp hát Kodak với 3,400 chỗ ngồi là nơi trao giải thưởng điện ảnh Oscar hàng năm.”
Hồi năm 2005, lần đầu tiên đoàn tŕnh diễn “Duyên Dáng Việt Nam” được đem ra ngoại quốc và diễn 3 buổi ở Úc. Tuy nhiên đoàn này đă bị cộng đồng người Việt địa phương biểu t́nh chống dữ dội.
Hai buổi tŕnh diễn chính thức đă bị hơn 8,000 người biểu t́nh chống “văn hóa vận Cộng Sản.” Buổi sau cùng, ngày 4 Tháng Mười Một, 2005, chỉ có một ít ca sĩ ở lại hát kiếm tiền cũng bị biểu t́nh luôn.
“Thất bại thê thảm. Rạp hát có 700 chỗ ngồi mà chỉ có chừng 100 người vào xem, phần đông là du học sinh.” Bác Sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, chủ tịch Công Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu, hồi đó kể lại. Khi được hỏi, báo Thanh Niên đăng tin những người biểu t́nh ở Úc được “bao ăn trưa, xe đưa rước miễn phí, c̣n được mỗi người $50,” Bác Sĩ Tiến nói “Cái lối thông tin đó buồn cười, thô tục. Bởi v́ tôi đào đâu ra được một bị bạc nhiều đủ để phát tiền cho cả chục ngàn người.”
Theo bản tin Anh ngữ tờ Thanh Niên ngày 12 Tháng Tư, 2007, th́ “đoàn đại biểu đă làm việc với Jay Thomas, phó giám đốc rạp hát Kodak về vấn đề ‘ai sẽ là người cung cấp người đến xem với các tin tức đích xác về các điều kiện tŕnh diễn ra sao, ở đây’.”
Vào dịp chương tŕnh “Duyên Dáng Việt Nam” tŕnh diễn ở Úc, giáo sĩ Trương Trí Hiền, một thành viên cao cấp của Giáo Hội Tin Lành Mennonite Việt Nam đến định cư tị nạn chính trị điều trần ở Quốc Hội Hoa Kỳ rằng “Việt Nam theo đuổi chính sách hai mặt. Mặt ngoài khoe ra bộ mặt giả nhân giả nghĩa nhưng mặt trong vẫn đàn áp nhân quyền, tôn giáo thẳng tay.”


Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#305 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Wed Apr 18, 2007 11:59 am
Subject: RE: [HUYET-HOA] Tue Sy: To Dong Pha - Nhung Phuong Troi Vien Mong
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
THT

lap dainguyen <lapdainguyen@...> wrote:
To: huyethoa@yahoogroups.com
From: lap dainguyen <lapdainguyen@...>
Date: Tue, 17 Apr 2007 08:56:48 -0700 (PDT)
Subject: [HUYET-HOA] Tue Sy: To Dong Pha - Nhung Phuong Troi Vien Mong

Tuệ Sỹ
CADAO xuất bản lần thứ nhất 1973
SAIGON-VIETNAM
An Tiêm (Paris) tái bản lần 2 (2001)
 --- o0o --- 
 
 
Kinh Thi và Kinh Dịch như đôi cánh của con chim nhạn mang chở định mệnh lịch sử của Trung Hoa bay lượn suốt mấy mươi thế kỷ trên ṿm trời Viễn Đông. Dịch trải rộng con đường cho những bước đi lịch nghiệm trong cuộc tồn sinh; Thi là tâm nguyện khẩn thiết và trung thực từ giữa chỗ sâu thẳm của t́nh người và ḷng người, được mang ra để lịch nghiệm cuộc Lữ mà Dịch đă phơi bày ra đó. Âm hưởng của Thi là tiếng vang của nhịp bước trong cuộc Lữ.
Nhưng thảm họa lịch sử, v́ những tham vọng cuồng dại si ngốc của con người, càng lúc càng đổ dồn lên cuộc Lữ. Thi đă đổi cách điệu trở thành những âm vang thống thiết của Ly tao kinh. Cuộc Lữ trở thành cuộc đày ải; Thi cũng trở thành ẩn t́nh hoài vông Quê Hương; hoài vọng những phương trời viễn mộng của Quê Hương. Một lúc nào đó, Cuộc Lữ bị vây phủ trong trận đồ mù mịt của tư tưởng, Thi là chứng tích sa đọa của một thời. Buổi thịnh triều rầm một nhà Đường, Thi như một con thuyền biểu diễn tất cả tài hoa của nó trên ba đào lịch sử, giữa một đại dương rập ŕnh hiểm họa. Nó vẫn đủ khả năng đưa người vào lục địa, hay lướt sóng đi về vô tận khơi vơi hoằng viễn. Nhưng cũng có thể âm thầm xô ngă vô số người say sóng. Lư Bạch là một trong những tay lái cự phách, và có thể là nhất. lăng đăng với tài hoa vừa lăng mạn vừa kiêu hùng, nên quyến rũ và tạo ra một trường say sóng. Say trong một buổi tiệc, lượm lặt những vật phế khí của trời đất, để thống ẩm cuồng ngôn. Gậy lục ngọc của Lư Bạch được mượn để gơ lên đầu lịch sử, đẩy lịch sử đi vào mê cung bát trận đồ. Chỗ hay không bù lại chỗ dở; cái được không thấm vào đâu với cái mật. Thi ca khai diễn một trường hưởng thu cho những tay đầu cơ lịch sử có hạng.
Cái đó chỉ là dự tưởng về những chuyện có thể có cho Thơ mà thôi, nên khỏi phải nói dài ḍng.
Thơ vẫn là một cuộc lịch nghiệm Riêng và Chung, của Thời đại và Lịch sử. Từ cuộc Riêng, Thơ nương theo đôi cánh Thi và Dịch để đi về nơi Hoằng viễn, dẫn Lịch sử Uyên nguyên tụ hội với Thời đại. H́nh như những sự này tôi nghe được từ nơi thơ của Đông Pha, có nghe lộn hay không, th́ không biết. Nhưng cứ xin lấy chỗ nghe được đó ra để bố trí cho quyển sách này.
TS.
                                          ---o0o---
Chân thành cảm ơn chị Tâm Minh Thúy Nga đă gởi tặng tập sách này ( sách do nhà in An Tiêm tái bản lần 2, Paris)
(TK. Nguyên Tạng, 4/2005)
 


Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#306 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Fri Apr 20, 2007 11:32 am
Subject: Re: [HUYET-HOA] Tue Sy: Thanh Sac Thi Ca
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
Tri'ch
THT

nguyen tieumai <nguyentieumai@...> wrote:
THANH SẮC THI CA
Tuệ Sỹ
 
Cám ơn ông hàng xóm
Ngừng mở máy thu thanh
Vơng đưa thềm mận chín
Nghe sẻ gọi b́nh minh.
(Mộng Ngân Sơn)
Niềm vui đơn sơ của nhà thơ ở vào con số 12 đường Bến Chợ là như vậy đó. Tiếng sẻ gọi nhau trong nắng mai thật quá hiếm giữa những âm thanh rộn ràng khác. Trước mặt nhà của nhà thơ Quách Tấn chúng ta, đây là ngôi chợ Đầm của thành phố Nha Trang với lối kiến trúc tân tiến. Nhưng trước kia, chỗ này là một đầm sen. Một cái đầm sen ở ngay giữa thành phố; chúng ta có thể hiểu được tâm sự  lạc loài của một nhà thơnặng t́nh ấp ủ  thiên nhiên như  Quách Tấn. Mặc dù vẫn mang những tính chất náo nhiệt của một phố thịkiểu mẫu của thế kỷ này. Nha Trang thỉnh thoảng văn trầm ḿnh trong hương sắc diễm lệ của mùa thu. Cho nên nhà thơ của chúng ta vẫn là bóng dáng một lữ khách mùa thu của một thời đại quá khứ c̣n sót lại giữa những bước chân nhộn nhịp của chúng ta, của thanh niên trưởng thành trong thế kỷ hai mươi:
 
Áo giũ ngàn sương gió
Lên chùa thăm cố nhân
Non nghiêng thềm bóng xế
Lịu địu bóng nhàn vân.
Lịu địu (MNS)
Phong cách ấy quả thực có khác với chúng ta trong những thù tạc văng lai. Chúng ta đến và đi trong âm thanh và tốc độ của cơ khí, ồn ào và vội vă. Do bản chất cơ khí, nghĩa là sự hiện hữu bằng những phản lực bị dồn ép và bị bùng vỡ, mà thời đại chúng ta mang nặng tính chất chiến đấu, bạo động: những nổi loạn trong triết lư, trong văn học; những phong trào quần chúng, những nổi loạn của sinh viên thế giới… Thế th́, thời đại ấy của nhà thơ ấy là thời đại ẩn ḿnh trầm lặng, của một đám mây lơ lửng lồng trong bóng núi nghiêng nghiêng. Là thời đại của một Vương Duy tiễn bạn trong chén rượu Vị Thành, của một Gia Đảo lên núi t́m bạn, hay một Lữ Đường nơi chùa Phổ Lại, một Nguyễn Du trong dăy Hồng Linh?
Đạo dịch nói: “ Thiên nhiên biến động trong bất động. Nếu lửa là biểu tượng cho sự tiến hoá không ngừng, th́ núi là biểu tượng cho sự an định, tỉnh chỉ. Cuộc lữ không chỉ duy một mặt là cuộc hành tŕnh vô tận. Nhưng đó là những bước đi trên con đường Đạo – Chân thường vĩnh cửu. Núi có thể được san bằng để cho phố thị mọc lên, biển có thể bị lấp cạn để trở thành xa lộ. Dù đến mức như vậy, mối tương quan bản thể giữa con người và thiên nhiên vẫn tràn đầy trong đồng nhất tính hồn nhiên. Miếng vỏ ṣ lạc loài trên núi vẫn mang trong bản chất tồn tại của nó một nổi hoài hương tha thiết, nó mơ về những đợt sóng của trùng dương:
 
Vỏ ṣ khô ấp ủ
Niềm băng tuyết đêm sương
Muôn xa bờ bến củ
Vang vọng sóng trùng dương.
Ấp ủ (MNS)
Nhà thơ của chúng ta trong một thoáng rung động kỳ diệu nào đó đă đọc ra bản chất tồn tại sâu xa của tạo vật. Cũng chỉ với tâm hồn ấy mới có thể đọc ra những ẩn ngữ ấy trong lớp vỏ vô tri và vô nghĩa ấy.
Tất nhiên nhà thơ vẫn ở trong ḍng thác cuộn ào ạc theo bước tiến lịch sử của con người, nhưng trong cuộc hành tŕnh vô tận ấy nhà thơ có thể đạt được tận cùng về bản chất lữ thứ của ḿnh, v́ trong tận cùng tâm sự vẫn là một nỗi hoài hương bao la. Quê hương hiện thực của ông ở đâu? Ở trong đất Việt trời Nam này, trong bóng chùa ẩn giữa mây trắng; trong tiếng chuông khuya sớm, những tiếng sáo chiều. Đấy là những h́nh ảnh, những “ thanh” và “ sắc”, mà thiên nhiên vô h́nh thực hiện trong cụ thể hữu h́nh:
Chùa ẩn non mây trắng
Bóng in hàng liễu xanh
Mai chiều chuông đă tạnh
Ṿng sóng c̣n long lanh.
Tiếng ngân ( Giọt Trăng)
 
Đấy và những ǵ tương tự như thế đấy, là h́nh ảnh thiên nhiên đầy t́nh tự, là khoảng trời xanh tinh khiết c̣n lại trong đôi mắt long lanh của một nhà thơ trong cảnh xế chiều của chính đời ḿnh, và của cả một thời đại thi ca Việt Nam. Tiếng chuông chùa Hải Đức trên đồi trại thuỷ kia, sát bên thành phố ấy, sớm và chiều vẫn lạc loài, lan xa trong cô độc, trong sự sống của thành phố đang trôi đi dưới những tiếng nổ ṛn ră và tốc độï vội vàng của đủ các loại động cơ. Những tiếng chuông lạc loài, một hồn thơ cô quạnh, và c̣n ǵ nữa? Những giọt lệ – những giọt lệ đoàn viên trong nỗi hoài thương tha thiết:
Từng giọt châu rơi mắt mẹ hiền
Mừng con lưu lạc trở đoàn viên
Neo thu bến tạnh thuyền sương sóng
In bóng chùa xưa trăng nửa hiên.
Chuông khuya ( Đọng bóng chiều)
 
Vậy thiên nhiên có nói ǵ chăng? Th́ đấy: bốn mùa đến rồi đi, và rồi lại đến. Nhưng ngôn ngữ của loài người là ǵ, trên một cung bậc nào đó?
 
(Trích từ tập “Quách Tấn - Qua cái nh́n văn học của nhiều tác giả – Nhà xuất bản trẻ – 1994”)
.



Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#307 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Sat Apr 21, 2007 11:27 am
Subject: Fwd: CS Viet Gian Nguyen Van Bao aka Nhat Hanh, Cao thi Minh Phuong deu la tu hu'..!!
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
rvnaf <rvnaf2002@...> wrote:
To: Nuoc_VIET@yahoogroups.com, sghn_9@yahoogroups.com,
NguoiVietQuocGia@yahoogroups.com
CC: Tich Truong <truongngoctich@...>, dthtd@...,
bac-ai@..., nguyenvantanh718@..., ngubinhusa@...,
"05 Ong Nguyen Quoc Dong CD_Minnesota\)" <xn49@...>,
"055 Ong Le Dinh Thang CD_Minnesota\)" <thangle2005@...>,
cdn <rfv4u@...>, cdvn <chienddo@...>,
cdvn <chinhdoan@...>, cdvn <do1305@...>,
cdvn <f5ttang@...>, cdvn <fairviewclinic@...>,
cdvn <gioivbct@...>, cdvn <go4freevn@...>,
cdvn <hoakiemnguyen@...>, cdvn <huynh504@...>,
cdvn <kevan575@...>, chieule@..., cdvn <ngocbay@...>,
cdvn <norcalvacom@...>, cdvn <pnguyen@...>,
cdvn <saigonbulletin@...>, cdvn <tranphuthe@...>,
cdvn <vackc@...>, cdvn <vdv41@...>, cdvn <vivitran@...>,
"05 Ong Tran Thuc Ong Dao Long TTK CD ST Louis\)" <law2tra8@...>,
"055 Ha Van Hai Boston MA\)" <vamco13@...>,
"05 Ong Dang Van Kim CD Massachusetts\)" <kvdang27@...>,
"05 Ong Le Dinh Thang CD Minnesota\)" <thangle2007@...>,
"055 Nguyen Trung Kansas City MO\)" <trungwinn@...>,
"055 Ong Nguyen H Trieu Kansas City MO\)" <trieu6499@...>,
"05 Ong Tran Anh Tuan CD_Charlotte NC\)" <tuananhtran10@...>,
Vinh Nguyen <vknguyen@...>,
"055 NguyenThanhMinhHDDB/CD/GA\)" <minh30060@...>, ntd3544@...,
nxvinh@...,
"05 Ong Ho Van Lam CD Dayton Ohio\)" <nguoivietdayton@...>,
"05 Ong Hoang Trong Chieu Cong Dong Allentown PA\)" <chieuhoang06@...>,
cdvn_namcali@...,
"055 Bac Sy Nguyen Hoang MD CD Clark\)" <hoang.nguyen@...>,
Cao Chanh Cuong <k15vb@...>,
"05 Ong Vu Sy Cuong CD Denver\)" <dzungt@...>,
"05 Ong Le Cong Nghiep CD San Diego\)" <lenghiep2000@...>,
drhuuvo@...,
055 Ong Huynh Thanh Nhon - Tinh Nguyen FL <treflorida@...>,
"05 Ong Pham Ngoc Cuu BS Do Van Hoi CD Oralando FL\)" <hdo1305@...>,
Van Hung <vanhung@...>, hungyen34@...,
"055 Bui Thanh Thao CD Lancaster\)" <thaobui2004@...>
From: rvnaf <rvnaf2002@...>
Date: Sat, 24 Mar 2007 09:51:21 -0700 (PDT)
Subject: [SGHN_9] Fwd: CS Viet Gian Nguyen Van Bao aka Nhat Hanh, Cao thi Minh Phuong deu la tu hu'..!!



hatien <hatien@...> wrote:
To: thaoluan@yahoogroups.com, Nuoc_VIET@yahoogroups.com
From: hatien <hatien@...>
Date: Sat, 24 Mar 2007 04:45:57 -0700 (PDT)
Subject: [Nuoc_VIET] CS Viet Gian Nguyen Van Bao aka Nhat Hanh, Cao thi Minh Phuong

MỘT CHÚT ƯU TƯ VỀ THÍCH NHẤT HẠNH
 
Thích Nhất Hạnh tên thật là NGUYỄN VĂN BẢO, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926 tại Thừa Thiên, Huế. Năm 16 tuổi ( 1942) qui y tại chùaTừ Hiếu, Huế. Đại Đức năm 1949.
Năm 1969 tự hướng dẩn một phái đoàn Phật giáo Phản chiến sang Paris để cổ vỏ cho hoà đàm Paris.
V́ có nhiều hoạt động gần như công khai ủng hộ Cộng sản Hà nội, chống lại Chính phủ VNCH như là họp báo tại New York, công khai tố cáo rằng Quân Đồng minh và Không quân VNCH đă oanh tạc Bến tre làm thiệt mạng gần cả trăm ngàn người dân vô tội (!!??).... Ông ta c̣n dựng đứng rất nhiều chuyện khác để bôi bẩn Quân và Dân, Chính phủ VNCH, phối hợp với Phong trào phản chiến Mỹ, nhằm mục đích làm suy yếu tinh thần chiến đấu, đồng thời làm Quốc hội Hoa kỳ cắt mọi viện trợ quân sự cho Miền Nam VN. Bởi những lẻ đó. Ông ta bị cấm không cho trở về VN.
Năm 1976-77 Gặp CAO THỊ MINH PHƯỢNG ( Thích nử CHÂN KHÔNG ) tại Pháp, hai người phải ḷng nhau, Minh Phượng xuất tiền đứng ra lập LÀNG MAI LÀM CHỔ TU HÀNH VÀ LÉN LÚT YÊU NHAU. Để che mắt thế gian, Minh Phượng cạo đầu mặc áo dà, lấy hiệu là THÍCH NỬ CHÂN KHÔNG từ đó. Sau nầy nhờ khá giả nên lập thêm vài làng nữa cho Sư Cô, Sư Cậu đến tu hành như là LÀNG HỒNG, ở mỹ th́ có LỘC UYỄN, RỪNG PHONG...
Thưa các Bạn.
Muốn t́m hiểu về một thầy tu, th́ muốn hay không cũng nên có chút công phu tu học, Lỗ Trí Thâm tôi tuy là HOÀ THƯỢNG THỊT CHÓ, nhưng nhất định cũng có chút vốn liếng nhỏ nhoi về phương diện nầy, hơn nữa tôi không đi quá xâu về con đường thiền học cuả ông ta, tôi chỉ đứng trên căn bản BẮT  BUỘC PHẢI CÓ CUẢ MỘT THẦY TU MÀ THÔI.
Trước kia, Thích Nhất Hạnh là ĐẠI ĐỨC, tức là xuất gia theo TỊNH ĐỘ, nhưng từ khi lập ra LÀNG MAI th́ Ông không xưng là ĐẠI ĐỨC nữa mà TỰ XƯNG LÀ THIỀN SƯ.
Dỉ nhiên dù có tu theo Pháp môn nào th́ cái cứu cánh cuả người thầy tu là GIẢI THOÁT, Nhưng cái NGỘ ĐỂ GIẢI THOÁT có 2 con đường: TIỆM NGỘ và ĐỐN NGỘ, có thể nói Tịnh độ tức là chọn con đường TIỆM NGỘ,  là GIÁC NGỘ TỪ TỪ, do đó Tịnh độ chủ trương xuất gia, ở Chùa, thờ H́nh tượng Phật, tụng kinh, gỏ mỏ, công phu sớm chiều, dỉ nhiên cũng có phần THIỀN HÀNH, nhưng không chuyên mà chỉ là phụ thôi.
Tu THIỀN,  là chọn con đường ĐỐN NGỘ, tức là tức khắc nếu GIÁC NGỘ SẼ GIẢI THOÁT, Thiền không phải Xuất gia, không vào chuà, không thờ h́nh tượng mà đa phần là dùng QUÁN CHIẾU.
Nói là không xuất gia, không có GIỚI, nhưng thực tế THIỀN phải ǵn giới hết sức cẩn trọng, tự ḿnh phải hết sức khắt khe trong việc hành tŕ giới luật, nó c̣n nhiều hơn, bao quát hơn là những giới luật cuả TỊNH ĐỘ đưa ra, v́ nếu không khắt khe giử ǵn giới luật th́ dù có tu muôn vạn kiếp cũng không đi đến đâu, nói chi là TIỆM HAY ĐỐN NGỘ.
Nầy nhé, muốn giải thoát th́ phải PHÁ HẾT MỌI CHẤP, tức là phải đoạn diệt hết mọi ràng buộc, cho dù chỉ c̣n một ràng buộc nhỏ như hạt cát, cũng vẫn c̣n ràng buộc mà đă c̣n ràng buộc th́ dỉ nhiên là không sao giải thoát được!!!
Các Bạn hăy nh́n cái h́nh đính kèm theo đây, Ông Thích Nhất Hạnh xưng là Thiền Sư, công phu tu học từ 1942 đến nay 2007, 65 năm, theo căn bản phá chấp để giải thoát, ông Nhất Hạnh nầy phá được cái ǵ rồi ?? Ông đi đến đâu cũng phải có LỌNG CHE, CÓ KÈN TRỐNG NHẢ NHẠC TƯNG BỪNG , CÓ SƯ CÔ DĂM BA BÀ THEO HẦU BÊN TRƯỚNG, CÓ TIỀN HÔ HẬU ỦNG, CÓ CÔNG AN CS MỞ ĐƯỜNG.... V V....
Thiền sư mà THÂN không TỊNH, (có 2 đưá con với Chân Không ) KHẨU không CHÂN (chuyên dối trá, lừa đảo, gạt người ) Ư không CHÁNH (hám Danh, hám Lợi, cúc cung phục vụ cho CS không thuần tư tưởng b́nh đẳng, từ  bi, bác ái cuả một nhà tu). Chỉ một tấm h́nh, nếu ai là Phật tử, có chút khai ngộ cũng thấy rỏ chân tướng Ông Thiền sư nầy là như thế nào.
Đáng lư Tôi không cần phải luận bàn, nhưng v́ có thể có nhiều Bạn không là Phật tử, hoặc đă là Phật tử, nhưng chỉ sơ ngộ, chưa hiểu được chính pháp nên tôi mới lạm bàn chút chút cho rỏ cái sự đời. Tôi tuy ĂN THỊT CHÓ nhưng cũng cảm thấy đau ḷng cho kẻ làm thầy tu. DỐI NGƯỜI, GẠT ĐỜI, những kẻ làm hư CHÁNH PHÁP, đời đời sẽ vào đường NGẠ QUỈ, không ai c̣n có thể cứu vảng nổi. Ngày xưa, Mẹ cuả BỒ TÁT MỤC KIỀN LIÊN tội ác vô vàn, nhưng cũng may, bà c̣n có MỤC KIỀN LIÊN , một đệ tử chân chính cuả PHẬT, nhờ đó mới cứu được bà, ngày nay tên Nhất Hạnh nầy, có 2 đưá con, không dám nhận, có con vợ SƯ CÔ CHÂN KHÔNG vừa dử vưà hống hách như CHẰN TINH, GẤU NGỰA, th́ thử hỏi có c̣n ai cứu được đây ??
Thiền Sư mà cấm đệ tử niệm xưng PHẬT, chỉ cho phép gọi là BỤT, Vậy Ổng tu làm ǵ nhỉ ?? Ờ mà cũng phải, Ông ta có bao giờ muốn được giác ngộ siêu thoát đâu ?? Lở có siêu thoát th́ bỏ vợ con lại cho ai đây ?? Làng Mai, làng Hồng, Sư cô trẻ cả đống Giác ngộ sớm có mà PHÍ CUỘC ĐỜI.
NAM MO A DI ĐÀ PHẬT- NHẤT HẠNH ƠI LÀ NHẤT HẠNH !!!!!!!
 
HOÀ THƯỢNG THỊT CHÓ LỖ TRÍ THÂM
img387/8687/nhathanh01te5.jpg
 
Ảnh vợ chồng thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH
NHẤT HẠNH (X) CHÂN KHÔNG (XX)
.
__


Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#308 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Sun Apr 22, 2007 1:36 am
Subject: Re: Re : [siliconband] Re: [HUYET-HOA] tamuoilu@... ... he^` he^` he^`
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
Con TA o+i !!! ...
@!$#^%$*%$(*&$#^&$%!!!
 
 
THT

Hong Con TA <tamuoilu@...> wrote:
Cam on Ba Hang Xom
Dung liec tui rui cu...oi !
Co ngay tui noi doa
Bu vop dai, dung la ... lang !

hĂªhĂªhĂª ...
 
----- Message d'origine ----
De : Tran Tran <tranhactran@...>
Ă€ : DANTOCVIET@yahoogroups.com; DienDanAmNhac@yahoogroups.com; MeVietNam@yahoogroups.com; Nuoc_VIET@yahoogroups.com; SGHN_9@yahoogroups.com; siliconband@yahoogroups.com; sopmusic@yahoogroups.com; THAOLUAN@yahoogroups.com; tinhlam@yahoogroups.com; thtd_email@yahoogroups.com; nguyentieumai@...
Envoyé le : Vendredi, 20 Avril 2007, 14h22mn 07s
Objet : [siliconband] Re: [HUYET-HOA] Tue Sy: Thanh Sac Thi Ca

Tri'ch
THT

nguyen tieumai <nguyentieumai@ yahoo.com> wrote:
THANH SẮC THI CA
Tuệ Sỹ
 
Cám ơn ông hàng xóm
Ngừng mở máy thu thanh
Vơng đưa thềm mận chín
Nghe sẻ gọi b́nh minh.
(Mộng Ngân Sơn)
Niềm vui đơn sơ của nhà thơ ở vào con số 12 đường Bến Chợ là như vậy đó. Tiếng sẻ gọi nhau trong nắng mai thật quá hiếm giữa những âm thanh rộn ràng khác. Trước mặt nhà của nhà thơ Quách Tấn chúng ta, đây là ngôi chợ Đầm của thành phố Nha Trang với lối kiến trúc tân tiến. Nhưng trước kia, chỗ này là một đầm sen. Một cái đầm sen ở ngay giữa thành phố; chúng ta có thể hiểu được tâm sự  lạc loài của một nhà thơnặng t́nh ấp ủ  thiên nhiên như  Quách Tấn. Mặc dù vẫn mang những tính chất náo nhiệt của một phố thịkiểu mẫu của thế kỷ này. Nha Trang thỉnh thoảng văn trầm ḿnh trong hương sắc diễm lệ của mùa thu. Cho nên nhà thơ của chúng ta vẫn là bóng dáng một lữ khách mùa thu của một thời đại quá khứ c̣n sót lại giữa những bước chân nhộn nhịp của chúng ta, của thanh niên trưởng thành trong thế kỷ hai mươi:
 
Áo giũ ngàn sương gió
Lên chùa thăm cố nhân
Non nghiêng thềm bóng xế
Lịu địu bóng nhàn vân.
Lịu địu (MNS)
Phong cách ấy quả thực có khác với chúng ta trong những thù tạc văng lai. Chúng ta đến và đi trong âm thanh và tốc độ của cơ khí, ồn ào và vội vă. Do bản chất cơ khí, nghĩa là sự hiện hữu bằng những phản lực bị dồn ép và bị bùng vỡ, mà thời đại chúng ta mang nặng tính chất chiến đấu, bạo động: những nổi loạn trong triết lư, trong văn học; những phong trào quần chúng, những nổi loạn của sinh viên thế giới… Thế th́, thời đại ấy của nhà thơ ấy là thời đại ẩn ḿnh trầm lặng, của một đám mây lơ lửng lồng trong bóng núi nghiêng nghiêng. Là thời đại của một Vương Duy tiễn bạn trong chén rượu Vị Thành, của một Gia Đảo lên núi t́m bạn, hay một Lữ Đường nơi chùa Phổ Lại, một Nguyễn Du trong dăy Hồng Linh?
Đạo dịch nói: “ Thiên nhiên biến động trong bất động. Nếu lửa là biểu tượng cho sự tiến hoá không ngừng, th́ núi là biểu tượng cho sự an định, tỉnh chỉ. Cuộc lữ không chỉ duy một mặt là cuộc hành tŕnh vô tận. Nhưng đó là những bước đi trên con đường Đạo – Chân thường vĩnh cửu. Núi có thể được san bằng để cho phố thị mọc lên, biển có thể bị lấp cạn để trở thành xa lộ. Dù đến mức như vậy, mối tương quan bản thể giữa con người và thiên nhiên vẫn tràn đầy trong đồng nhất tính hồn nhiên. Miếng vỏ ṣ lạc loài trên núi vẫn mang trong bản chất tồn tại của nó một nổi hoài hương tha thiết, nó mơ về những đợt sóng của trùng dương:
 
Vỏ ṣ khô ấp ủ
Niềm băng tuyết đêm sương
Muôn xa bờ bến củ
Vang vọng sóng trùng dương.
Ấp ủ (MNS)
Nhà thơ của chúng ta trong một thoáng rung động kỳ diệu nào đó đă đọc ra bản chất tồn tại sâu xa của tạo vật. Cũng chỉ với tâm hồn ấy mới có thể đọc ra những ẩn ngữ ấy trong lớp vỏ vô tri và vô nghĩa ấy.
Tất nhiên nhà thơ vẫn ở trong ḍng thác cuộn ào ạc theo bước tiến lịch sử của con người, nhưng trong cuộc hành tŕnh vô tận ấy nhà thơ có thể đạt được tận cùng về bản chất lữ thứ của ḿnh, v́ trong tận cùng tâm sự vẫn là một nỗi hoài hương bao la. Quê hương hiện thực của ông ở đâu? Ở trong đất Việt trời Nam này, trong bóng chùa ẩn giữa mây trắng; trong tiếng chuông khuya sớm, những tiếng sáo chiều. Đấy là những h́nh ảnh, những “ thanh” và “ sắc”, mà thiên nhiên vô h́nh thực hiện trong cụ thể hữu h́nh:
Chùa ẩn non mây trắng
Bóng in hàng liễu xanh
Mai chiều chuông đă tạnh
Ṿng sóng c̣n long lanh.
Tiếng ngân ( Giọt Trăng)
 
Đấy và những ǵ tương tự như thế đấy, là h́nh ảnh thiên nhiên đầy t́nh tự, là khoảng trời xanh tinh khiết c̣n lại trong đôi mắt long lanh của một nhà thơ trong cảnh xế chiều của chính đời ḿnh, và của cả một thời đại thi ca Việt Nam. Tiếng chuông chùa Hải Đức trên đồi trại thuỷ kia, sát bên thành phố ấy, sớm và chiều vẫn lạc loài, lan xa trong cô độc, trong sự sống của thành phố đang trôi đi dưới những tiếng nổ ṛn ră và tốc độï vội vàng của đủ các loại động cơ. Những tiếng chuông lạc loài, một hồn thơ cô quạnh, và c̣n ǵ nữa? Những giọt lệ – những giọt lệ đoàn viên trong nỗi hoài thương tha thiết:
Từng giọt châu rơi mắt mẹ hiền
Mừng con lưu lạc trở đoàn viên
Neo thu bến tạnh thuyền sương sóng
In bóng chùa xưa trăng nửa hiên.
Chuông khuya ( Đọng bóng chiều)
 
Vậy thiên nhiên có nói ǵ chăng? Th́ đấy: bốn mùa đến rồi đi, và rồi lại đến. Nhưng ngôn ngữ của loài người là ǵ, trên một cung bậc nào đó?
 
(Trích từ tập “Quách Tấn - Qua cái nh́n văn học của nhiều tác giả – Nhà xuất bản trẻ – 1994”)
.




Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#309 From: "tranhactran" <tranhactran@...>
Date: Sun Apr 22, 2007 3:13 am
Subject: Fwd: Xom vang Qld mo+? cu+?a la.i ba` con o+i !!!
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
Ma.i dzo^!
Ma.i dzo^!
Mu+`ng wa'!
Dzui wa'!
O^ng o+i! Ba` o+i!
Co^ o+i! Chu' o+i!
Du+o+.ng o+i! Mo+. o+i!
Ba'c o+i! Thi'm o+i!
Anh o+i! Em o+i!
Na`ng o+i! Cha`ng o+i!
"Xo'm Va('ng Qld mo+? cu+?a la.i go^`i !" ba` con o+i !!!
Ma.i dzo^!
Ma.i dzo^!

THT

--- In XomVangQld@..., "Nghia Baria"
<nghia.baria@...> wrote:

Ba` con co^ ba'c o+i, Xo'm Va('ng Qld mo+? cu+?a la.i go^`i ! Vui
mu+`ng vui qua' vui !!
Ba'c Huy`nh D-u+'c Ky` o+i ! Chu' Nguye^~n va(n Tha`nh o+i ! Chi.
Thanh Ngo.c o+i ! Tro+? vo^ cho+i ! Vui qua' ! Vui qua' !

--- End forwarded message ---

#310 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Sun Apr 22, 2007 8:04 am
Subject: Re: [HUYET-HOA] Fw: Nhung tinh khuc vuot thoi gian #1>>> Trung moi lon. Quy Vi nho save de nghe hoac de burn CD
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
 
THT

Tran Quan Long <tql766@...> wrote:

Ba Khong Triet Tam Vo
Trich Tu: CD Phan Trac Ca
Tran Quan Long trinh bay; Quoc Toan hoa am

http://www.nhacsingheo.com/PhanTracCa/baKhongTrietTamVo.html


Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#311 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Mon Apr 23, 2007 11:40 am
Subject: Fwd: [Nuoc_VIET] To Quoc Ghi On - Vi Quoc Vong Than
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
loc huong <lochuong65@...> wrote:
To: Tri Nguyen <nquangus@...>
From: loc huong <lochuong65@...>
Date: Mon, 23 Apr 2007 10:36:00 +1000 (EST)
Subject: [Nuoc_VIET] To Quoc Ghi On - Vi Quoc Vong Than


Thành kính tri ân các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă anh dũng hy sinh để bảo vệ chính nghĩa Quốc Gia Dân Tộc. Những người lính Quân Lực VNCH vẫn măi măi oai hùng hiên ngang ngạo nghễ trong mỗi trái tim thân yêu của người Việt Nam yêu chuộng Tự Do , Công Lư , Nhân Quyền và Ḥa B́nh chân chính trên toàn thế giới .

Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4 Tướng Lê Văn Hưng xuất thân khóa 5 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, măn khóa vào tháng 1/1955. Sau ngày ra trường, ông đă có một thời gian dài chiến đấu tại chiến trường Miền Tây qua các chức vụ các chức vụ chỉ huy từ cấp đại đội, tiểu đoàn, Trung đoàn thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh (BB). Năm 1966, ở cấp Thiếu tá, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/Trung đoàn 31 BB. Cũng trong năm 1966, ông được các phóng viên chiến trường vinh danh là một trong năm ngũ hổ U Minh Thượng (ngoài Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Hưng, 4 sĩ quan khác là: Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 42 BĐQ; Thiếu tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 44 BĐQ, Đại úy Vương Văn Trổ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3/33BB; Đại úy Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/33BB).

Năm 1968, ở cấp bậc Trung tá, Sĩ quan Lê Văn Hưng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 BB. Ông đă chỉ huy Trung đoàn 31 BB lập nhiều chiến tích tại chiến trường Hậu Giang. Cũng trong thời gian chỉ huy trung đoàn 31BB, ông đă được thăng cấp đại tá. Giữa tháng 6/1971, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 BB khi c̣n mang cấp đại tá, hơn 9 tháng sau, ông được thăng cấp chuẩn tướng, tiếp tục giữ chức Tư lệnh Sư đoàn này đến ngày 3 tháng 9/1972, sau đó được cử giữ chức tư lệnh phó Quân khu 3. Một năm sau, Tướng Hưng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 BB, cuối tháng 10/1974, ông đảm nhận chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn 4.

Tướng Hưng đă được vinh danh "Anh Hùng An Lộc" trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc B́nh long. Tướng Hưng đă tự sát vào tối ngày ngày 30.04.75 tại văn pḥng riêng ở bộ chỉ huy phụ của Quân đoàn 4 (đồng thời là nơi gia đ́nh Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giă với gia đ́nh và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ bộ chỉ huy. Sau đó, ông đă quay vào văn pḥng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh (1933-1975) Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đă tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại tổng hành dinh ở Lai Khê. Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ c̣n để lại trong chiến sử Việt Nam, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đă thủ sẵn một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân địch.
Đại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Đông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Đại Tá Vỹ nổi danh là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huỵ Sau chiến thắng An Lộc, Đại Tá Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn pḥng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với chiếc lon mới Chuẩn Tướng.

Chuẩn Tướng Vỹ dưới con mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấụ Một số sĩ quan trong sư đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị thẳng cánh. Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người ta nh́n thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm nh́n chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với các sĩ quan tham mưu:

“Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh ḿnh ngoài này mà sẽ t́m cách len lỏi đi thẳng về Sài G̣n”.

Sự phán đoán đó về sau đă hoàn toàn đúng. Một quân đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, mà t́m cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của sư đoàn, hối hả tiến về Sài G̣n để dứt điểm Tướng Dương Văn Minh. Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu sư đoàn xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban sĩ quan ngồi bên chiếc máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan tro.ng. Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa các cấp buông súng, ai ở đâu th́ ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao.

Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đă mời các sĩ quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nh́n khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các sĩ quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đă khéo léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏị Mọi người c̣n đang dùng cơm th́ Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn pḥng tạm cho Tư Lê.nh. Các sĩ quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa th́ thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đă thực sự ra đi, trên tay c̣n cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó c̣n nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đă bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầụ Khi các sĩ quan và binh đội cộng sản vào tiếp quản doanh trạị sĩ quan sư đoàn cao cấp của địch đă nghiêng ḿnh kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói: “Đây mới xứng đáng là con nhà Tướng.”

Các chiến sĩ sư đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lê.nh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, G̣ Vấp, Sài G̣n. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn 4 (1927-1975) Vào lúc 11 Giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giă các binh sỉ đă tự kết liễu đời ḿnh. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của ḍng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cơi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Maụ ược hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở c̣n ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lư. Sau này khi đă trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương. Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp v́ chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đă xong cho một bữa trưạ Nếu ở Bộ Tư Lệnh th́ người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các sĩ quan, có ǵ ăn nấỵ Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông th́ được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không ǵ hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoạị

Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội Việt Nam Cộng Ḥa bỏ phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn vẹn mới có ba ngày đă vội vă ra lệnh toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày 30.04.1975.

Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lănh của quân ta nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhă như vậỵ Đại cuộc không thành, thành mất th́ tướng phải tuẫn tiết theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu găy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương c̣n lở lói và rướm máu, đă làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Đến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đă nổ súng tuẫn tiết trong văn pḥng tại trại Lê Lợị Đến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lê.nh. Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía tráị Ngày hôm sau, các sĩ quan c̣n ở lại Bộ Tư Lệnh đă đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thợ Trong đầu năm 1994, thân nhân của Thiếu Tướng Nam đă xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên đường Lê Quang Định, quận G̣ Vấp, Sài G̣n.

Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh (1925-1975) Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Hai đă tự sát tại trung tâm Đồng Tâm. Bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng c̣ng c̣m cơi với thời gian, đă mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về G̣ Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung U¨y thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người c̣n cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó. Lúc c̣n sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất ǵ đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, th́ khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm ḷng sắt son đối với dân tộc và tổ quốc.

Tài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II; Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống b́nh dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhaụ Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đă trở thành huyền thoại về Đại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968 đă cùng vài sĩ quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.

Năm 1974 định mệnh đă đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại ngh́n thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đă làm địch quân kinh hoàng.

Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn pḥng Tư Lệnh chờ quân địch đến. Người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đ́nh, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của ho.. V́ họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao th́ cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đă từng chiến đấu bảo vệ đất nước hơn hai mươi năm, không lư do ǵ người giao lại cho địch một cách dễ dàng. Khoảng xế trưa, một đơn vị cộng quân thận trọng tiến vào Đồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đ̣i hỏi một viên sĩ quan sư đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. T́nh h́nh rất căng thẳng, hai bên giương súng gh́m nhaụ Măi lâu sau mới có một người gơ của xin vào rụt rè tự nhận là sư đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên sĩ quan đi.ch. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn ông này bị thương nhẹ phải bỏ chạy ra ngoài. Để cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam th́ họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đă uống thuốc độc tự sát trong văn pḥng Tư Lệnh.

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn 2 (1928-1975) Thiếu Tướng Phú là người trách nhiệm trong cuộc hành quân triệt thoái quân dân kḥi ba tỉnh Cao Nguyên, đă bị thất bại nặng nề và đau đớn nhất trong quân sử cận đại.
Tướng Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75. Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn Đất) Sài G̣n, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đă uống thuốc độc chết cùng với vận nước. Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho Việt Nam Cộng Ḥa sau ngày kư Hiệp Định Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đă thề với ḷng là người thà chết chứ không chịu nhục nhă lọt vào tay giặc một lần nữạ Lời thề ấy người đă giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn. C̣n nhớ tại trận Điện Biên Phủ, toàn tiểu đoàn của Đại Úy Phú chỉ c̣n có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hàọ Đại Úy Phú và một số các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn đều bị đạn địch quật ngă và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh laọ định mệnh vẫn c̣n muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Đại Úy Phú được trả về cho Việt Nam Cộng Ḥạ Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đă nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu IỊ Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đă vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào t́nh trạng bất khiển dụng v́ lư do sức khỏe ngay trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau ḷng theo dơi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥạ Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của ḿnh cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đă tràn ngập khắp phố phường Sài G̣n trong ngày 30.04.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rơ ư chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

* Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975)

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đă anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng giặc. Đại Tá Cẩn đă bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Vài nét về một anh hùng: Đại-tá Hồ Ngọc-Cẩn.

Đại-tá Hồ Ngọc-Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại Cần-thơ. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong quân đội Quốc-gia Việt-Nam. Thủa nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật ǵ. Năm 10 tuổi ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính t́nh hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học (1945) th́ chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Măi đến năm 1947 ông mới được đi học lại. Ông học không lấy ǵ làm giỏi cho lắm, thường th́ chỉ đứng trung b́nh trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường Thiếu-sinh-quân.

Thời điểm này, trên toàn lănh thổ VN có 7 trường TSQ, phân phối như sau :
_ Trường TSQ đệ nhất quân khu, ở Gia-định.
_ Trường TSQ đệ nhị quân khu ở Huế.
_ Trường TSQ đệ tam quân khu ở Hà-nội.
_ Trường TSQ Móng- cáy dành cho sắc dân Nùng.
_ Trường TSQ đệ tứ quân khu ở Ban-mê-thuột.
_ Trường TSQ Đà-lạt của quân đội Pháp.
_ Trường TSQ Đông-Dương của quân đội Pháp, ở Vũng-tầu.

Hồ Ngọc Cẩn được thu nhận vào lớp nh́ trường TSQ đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương tŕnh Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường TSQ đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia-định về Mỹ-tho.

Khi hiệp định Genève kư ngày 20-7-1954, th́ ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường TSQ đệ tam quân khu di chuyển từ Hà-nội vào, sát nhập với trường TSQ đệ nhất quân khu ở Mỹ-tho. Niên học 1954-1955, trường TSQ đệ nhất quân quân khu bắt đầu dạy chương tŕnh Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Hồ Ngọc-Cẩn học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt-văn là ông Nguyễn Hưũ-Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ, là giữa một số bạn học chương tŕnh Việt từ Bắc vào, mà Hồ Ngọc-Cẩn lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt-văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, th́ bài của Cẩn được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của Cẩn chỉ đứng thứ nh́ trong lớp mà thôi. Năm này Cẩn bắt đầu làm thơ. Thơ của Cẩn không có hùng khí, đa số những bài thơ này cực kỳ lăng mạn.
Hết năm học, Cẩn đă 17 tuổi. Theo học quy của trường TSQ, th́ khi một học sinh mười bẩy tuổi, mà chưa học hết đệ ngũ, sẽ được gửi đi học chuyên môn. C̣n như mười bẩy tuổi, mà học hết đệ ngũ, lại tỏ ra xuất sắc th́ được giữ lại học đệ tứ, rồi... cho học lên cao nữa. Niên khóa 1955-1956, Hồ Ngọc-Cẩn được gửi lên học tại Liên-trường vơ khoa Thủ-đức, về vũ khí. Sau ba tháng, Cẩn đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, Cẩn lại đậu chứng chỉ bậc nh́, và bắt đầu kư đăng vào quân đội với cấp bậc binh nh́.

Quy chế dành cho các TSQ Việt-Nam thời ấy là quy chế dành cho các TSQ Pháp trong thời b́nh. Một học sinh ra trường, th́ ba tháng đầu với cấp bậc binh nh́, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau Cẩn là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí.

Chiến tranh tại miền Nam VN tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 th́ lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, bộ Quốc-pḥng cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt. Được nhập học trường này, tất cả các hạ sĩ quan có trên năm năm công vụ, có bằng Trung-học đệ nhất cấp. Với sự nâng đỡ đặc biệt của đại tướng Lê Văn-Tỵ Tổng-tham mưu trưởng, nguyên là một cựu TSQ, các hạ sĩ quan xuất thân từ trường TSQ, không cần phải hội đủ tŕnh độ học vấn, cũng như thâm niên công vụ, đều được nhập học.

Nào ai ngờ, với sự nâng đỡ đặc biệt này, đă cung cấp cho đất nước VN không biết bao nhiêu sĩ quan gương mẫu, anh hùng trên chiến trường.

Hồ Ngọc-Cẩn tốt nghiệp khóa 2 ( ?) sĩ quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy. Dường như có một mật lệnh của Tổng-thống Ngô Đ́nh-Diệm hay đại tướng Lê Văn-Tỵ, các tân chuẩn úy, xuất thân từ trường TSQ, đều được đưa về phục vụ tại các binh chủng : Dù, Thủy-quân lục chiến (TQLC) , Biệt-động quân (BĐQ), Quân-báo, An-ninh quân đội, và Lực-lượng đặc biệt (LLĐB).

Sau khi ra trường, Hồ Ngọc-Cẩn theo học một khóa huấn luyện BĐQ, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội trưởng. Lănh thổ khu này gồm các tỉnh Cần-thơ (Phong-dinh), Chương-thiện, Sóc-trăng (Ba-xuyên), Bặc-liêu, Cà-mâu (An-xuyên). Về sau, v́ t́nh h́nh chiến tranh thay đổi, quân Cộng-sản từ du kích chiến, chuyển sang đánh cấp tiểu đoàn và trung đoàn, các đại đội BĐQ cũng phải kết hợp thành tiểu đoàn. Các đại đội BĐQ của khu 42 chiến thuật kết thành hai tiểu đoàn. Tiểu đoàn mang số 42, đơn vị mà Cẩn phục vụ, được tặng mỹ danh là tiểu đoàn Cọp ba đầu rằn. Tiểu đoàn mang số 44 được tặng mỹ danh là Cọp xám U-minh hạ.

Trung Sĩ Vũ Tiến Quang (30-9-1956 - 30-4-1975) Trung Sĩ Vũ Tiến Quang sinh ngày 30 thánh 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thọ 19 tuổi. Ông đă cùng Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đă anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng giặc. Trung Sĩ Vũ Tiến Quang và Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn đă bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ.
Đọc tiếp về tiểu sử Trung Sĩ Vũ Tiến Quang.

Đại Tá Đặng Sĩ Vinh Vào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng, Đại Tá Vinh, cùng gia đ́nh gồm vợ và băy người con đă tự tử bằng súng lục.















Trung tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long

Người Sĩ Quan Cảnh Sát này đă đến đứng chào bức tượng Chiến Sĩ Việt Nam Cọng Hoà rồi rút súng bắn vào đầu tự tử thay v́ để bị bắt. Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long tuẩn tiết sáng 30-4-75 trước Hạ Viện, dưới chân tượng đài Thủy quân lục chiến. Ông là người luôn tận tụy với công việc, cả đời lấy phương châm chí công vô tư và quan niệm Cảnh Sát là công bộc của dân. Có phải chăng Ông nằm xuống là tạ tội với dân tộc thay cho bọn nửa người nửa ngợm nửa đười ươi quyền cao chức trọng hưởng qúa nhiều bổng lộc, thời b́nh th́ hách dịch kiêu căng cậy quyền thế làm đủ chuyện xằng bậy nhưng đến khi quốc nạn th́ học theo lủ chuột chui rút xuống cống rănh chuồn ra ngoại quốc. Ông đă nằm xuống, "Anh ngă xuống giữa Sàig̣n để lại không đủ họ tên, nhưng lịch sử ngh́n năm sau vẩn nhớ Trung Tá Long". "Tổ quốc nghiêng ḿnh tiển biệt một người con".

Lê-xuân-Nhuận
Nguyễn Bắc Tên thật Kiều đ́nh Thanh - quê quán Tam Quan, Quảng Nam. Lănh tụ Mặt Trận Nhân Dân Liên Minh Phục Quốc, bị bắt ngày 23.12.1983. Án từ h́nh . Xử bắn ngày 16.12.1985 tại Đà Nẵng.
Những người đồng chí của ông c̣n nhớ được trọn vẹn duy nhất một bài thơ trước ngày ông bị đem đi xử bắn.
Tính cách về nhân dáng của ông không bao giờ mờ phai trong tâm hồn những con người VN yêu nước. Đặc biệt, nơi những nhà giam có nhốt tù chính trị. Tên thật Kiều Đ́nh Thanh - quê quán Tam Quan, Quảng Nam. Lănh tụ Mặt Trận Nhân Dân Liên Minh Phục Quốc VN sa cơ ngày 23.12.1983. Phỉ quyền VC lên Án tử h́nh và Xử bắn Ông vào ngày 16.12.1985 tại Đà Nẵng.

Những người đồng chí của Ông c̣n nhớ được trọn vẹn duy nhất một bài thơ trước ngày Anh Hùng Kháng Chiến Kiều Đ́nh Thanh bị tặc quyền VC đem đi xử bắn.

Tính cách về nhân dáng của Anh Hùng Kháng Chiến Kiều Đ́nh Thanh không bao giờ mờ phai trong tâm hồn những con người VN yêu nước. Đặc biệt, nơi những nhà giam có nhốt Tù chính trị.


Chiều biệt giam buồng tử h́nh

Nhớ lắm em ơi ! anh nhớ lắm
Biết em từng phút mỏi ṃn trông
Đêm khuya thức giấc con thơ khóc
Tựa cửa ôm con đợi bóng chồng.

Biết nói sao cho hết đoạn trường
Chỉ c̣n đọng lại ngàn vấn vương
Nơi đây rêu phủ tường vôi lạnh
Gói trọn tim anh vạn sầu thương ...

Thu lại về rồi em có hay ?
Gió thu đă đổi ngọn heo may
Năm xưa Chức Nữ ru con ngủ
Nước mắt vây quanh tấm lụa dầy ...

Vọng phu ngày trước cũng trông chồng
Đứng đếm thời gian giữa khoảng không
Biền biệt năm qua rồi tháng tới
Suối lệ đêm ngày hóa biển đông !.

Anh vẫn c̣n đây em biết không
Hờn căm rực lửa đốt tim ḷng
Bạo thù gian xảo đang từng phút
Mặc áo nhân từ phá núi sông.

Anh vẫn c̣n đây em biết không
Đêm ngày ṿ-vơ suốt cùm đen (*)
Pháp trường vẫy gọi hồn ma vọng
Mà ngẫm giang sơn tủi xác thân !

Em hỡi ! bây giờ em ở đâu
Trăng lên có gọi thấu cung sầu
Đêm về bóng nguyệt in đáy nước
Em có nghe ḷng dậy đớn đau

Em ơi ! non nước rộng bao la
Tích tụ ngàn đời tổ tiên ta
Một thủa giặc về gây tang tóc
Đau thương trùm lấp khắp nhà nhà ...

Làm trai ngang dọc cả muôn phương
Kiếm thép nhung y giữa chiến trường
Giận gót chưa đạp tan lũ giặc
Giờ đành ngă bóng khuất tà dương !

Giờ đành ngă bóng !...
khuất tà dương ...

Anh Hùng Kháng Chiến Kiều Đ́nh Thanh

1985 - Những ngày đợi án tử thi hành
chép lại theo tưởng nhớ của Nam Phương

Nguyễn Bắc

* ghi chú : Suốt cùm đen : 1 loại cùm-suốt, dài vừa đúng 1 chiều ngang chỗ nằm,
có 2 khoen thép (móng ngựa) để khóa khít 2 cổ chân.

Cố Đề Đốc Hoàng Cơ Minh
Ông và đồng đội hy sinh vào năm 1984 trên chiến trườngđông tiến nam Lào












 
Trần Văn Bá
Tiểu sử tráng sỉ Kinh Kha Trần Văn Bá Tử h́nh: Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Huỳnh Vĩnh Sanh, Hồ Thái Bạch. Chung thân: Trần Nguyên Hùng, Tô Văn Hườn, Hoàng Đ́nh My.? Từ 8 đến 20 năm tù: số 13 kháng chiến quân c̣n lại.







Ghi chú : các h́nh trong trang này được lấy từ bán nguyệt san Hoa Thịnh Đốn Việt Báo số 1 đến 15 tháng 1 năm 1985.


Danh sách 21 kháng chiến quân bị nạn:
1 - Mai Văn Hạnh
2 - Trần Văn Bá
3 - Lê Quốc Quân
4 - Huỳnh Vĩnh Sanh
5 - Hồ Thái Bạch
6 - Trần Nguyên Hùng
7 - Tô Văn Hườn
8 - Hoàng Đ́nh Mỹ
9 - Thạch Sanh
10 - Nguyễn Văn Trạch
11 - Nguyễn B́nh
12 - Nguyễn Văn Hậu
13 - Nhan Văn Lộc
14 - Lư Vinh
15 - Trần NGọc Ẩn
16 - Cai Văn Hùng
17 - Đặng Bá Lộc
18 - Thái Văn Dư
19 - Trần Văn Phương
20 - Nguyễn Phi Long
21 - Nguyễn Văn Cầm

The Seven Samurai in VietNam The Seven Samurai in VietNam: Theo tài liệu 30-04 trong kho dữ liệu của hăng Thông tấn Nhật bản Kyodo về "Bảy Hiệp Sĩ Việt Nam". Ngày 30-04-1975 là ngày đau thương v́ QLVNCH bị bức tử, người lính bị bẻ găy súng bởi chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi. Bảy người lính Dù mà trưởng toán là thiếu úy Hoàng Văn Thái tụ họp tại một bùng binh trong Chợ Lớn, và họ chọn lựa sự buông súng trong danh dự khi tự kết liễu đời ḿnh sau khi hát xong bài quốc ca VNCH, họ xếp thành ṿng tṛn, mỗi người tay trong tay một quả lựu đạn, mở chốt một lượt. Một tiếng nổ chát chúa tiễn biệt họ ra đi v́ danh dự.

Sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù Theo lời tường thuật của anh Trung úy Cảnh sát Nguyễn Văn Đ́nh định cư ở Houston chứng kiến tại hiện trường sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù, họ nằm trong toán bảo vệ Đài Phát Thanh và Đài Truyền H́nh. Khi lệnh buông súng ban ra toán quân nhân này đă xă súng bắn vào nhau, xác thân họ tan nát cho sự ra đi nhuốm màu máu anh hùng nhất, đáng kính nhất của QLVNCH.

_________________

Cỏ May
.
._,___


Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#312 From: "diendannhacsingheo" <tranhactran@...>
Date: Mon Apr 23, 2007 12:45 pm
Subject: Nhac: Tho+`i Dda.i Co^.ng Sa?n Vie^.t Gian – Tran Quan Long
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
#313 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Mon Apr 23, 2007 1:10 pm
Subject: 30/4: VN Gia?i Pho’ng ???
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
"
Trong những năm đầy cam go thử thách này, những người yêu nước, yêu đạo chân chính đều được nhà nước Cộng sản Việt Nam đáp lại bằng sự đàn áp, cô lập, quản thúc và tù đày, họ sung công quản lư nhiều chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, tôn miếu, các tự viện của các tôn giáo tại Việt Nam. Những hậu quả ấy vẫn c̣n tồn tại đến nay, Nhà nước Việt Nam vẫn chưa có chính sách giải quyết thỏa đáng ! Gần như "dậm chân tại chỗ". Đặc biệt, ngoại trừ một số tu sĩ cầu an, tiêu cực chạy theo Đảng, làm thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, làm đại biểu Hội đồng Nhân dân, hay đại biểu Quốc hội hoặc những cán bộ Cộng Sản mượn áo nhà tu để nhập vai hoạt động cho Đảng, th́ họ sẽ được sống an nhiên vô sự mà c̣n có hậu thuẫn của đảng Cộng sản nữa.

Rơ ràng rằng dưới chế độ Cộng sản bất cứ ai muốn yêu nước, yêu đạo bắt buộc phải yêu Đảng. Nếu yêu nước, yêu đạo mà không yêu đảng Cộng sản, tất nhiên sẽ bị quy kết là phản động, là âm mưu lật đổ chính quyền, là xâm phạm an ninh quốc gia, là sẽ bị theo dơi, là theo đế quốc Mỹ, sẽ bị bắt, sẽ bị tù đày và bị đưa đi cải tạo hoặc bị mọi áp lực chẳng chóng th́ chầy khó ai tránh khỏi đại nạn này. Họ sao chép lại mô h́nh "ái quốc trung quân" của các thời đại phong kiến cổ xưa nhưng ma mị, thâm độc hơn.

V́ đặc quyền đặc lợi của tập đoàn siêu quyền lực trong bộ chính trị, họ ra sức tuyên truyền mở rộng dân chủ trá h́nh để làm các vỏ bọc cho giới lănh đạo lũng đoạn cộng đồng, mang màu sắc siêu phong kiến kiểu mới. Chính đảng Cộng sản đă xác nhận có nhiều sai lầm trong cái gọi là thời kỳ quan liêu bao cấp, nhưng đến nay sự vi phạm nhân quyền đặc biệt là quyền tự do tôn giáo, các quyền tự do cơ bản của con người, những điều ước quốc tế mà họ đă cam kết nhưng vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện tiến bộ, điển h́nh như : các vị lănh đạo cũng như thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn c̣n bị quản chế, quản thúc tại địa phương, trong số đó :

1. Đức Tăng Thống Ḥa thượng Thích Huyền Quang tại B́nh Định.

2. Ngài Viện trưởng Viện hóa đạo Ḥa thượng Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện, Sàig̣n.

3. Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ tại Già Lam.

4. Thượng tọa Thích Không Tánh tại chùa Liên Tŕ, Quận 2.

5. Thượng tọa Thích Huệ Đăng tại nhà số 242/20 đường Bùi Viện, Quận 1, Sàig̣n.

Riêng bản thân tôi khi bị cầm tù th́ ngôi chùa đă bị chiếm dụng xây cất một trường Trung học, tài sản bị tịch thu, tịch thu cả một bảo vật vô giá là Tượng đồng đen 64 kg, khi ấy gia đ́nh các em tôi bị nhiều lần xua đuổi, cô lập, đ̣i giải tỏa, v.v... chỉ v́ có quan hệ thân nhân. Những mái tranh nghèo đơn sơ nhiều năm dài không thể ngoi đầu lên với cái xă hội nhiều định kiến...

Khi trả tự do, họ buộc tôi phải về gia đ́nh các em ruột, họ bắt buộc các em tôi phải làm cam đoan, cam kết, dùng t́nh cảm thân nhân để hạn chế mọi tự do cá nhân trong thường nhật... Hiện nay mỗi khi rời nhà ra đi th́ có công an theo dơi, chẳng hạn như ngày 16-02-2005 vừa qua, tôi lên Sàig̣n để siêu âm bệnh ung bứu, chỉ đi một ngày thôi mà công an Phường 1, Quận Tân B́nh và công an Quận này đă khám xét nhà, lập biên bản tạm trú bất hợp pháp, mời tôi và chị ruột là Huỳnh Thị Hai phải đến phường làm việc, điều tra. Lúc đi khám bệnh tại trung tâm Ung Bứu cho đến lúc về nhà chị, kể cả lúc lên xe về Bạc Liêu, lúc nào cũng có công an trực chiến 100% và trực tiếp tại nhà chị tôi ! Khi về đến Bạc Liêu th́ công an tỉnh tên Minh lại mời em rể thứ tư của tôi thuyết phục để giám sát tôi. Trong một ngày rời khỏi nhà đi khám bệnh, công an điện liên tục hỏi thăm các em tôi đủ mọi điều. Sự theo dơi này khiến tôi cảm thấy tưởng chừng như đang bị cầm tù trong một nhà tù mới khác hơn trại tù cũ mà thôi ! Chính v́ thế mà đợt thả tù vừa qua, các vị như Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Linh mục Nguyễn Văn Lư, và Giáo sư Nguyễn Đ́nh Huy cũng chẳng khác ǵ hoàn cảnh của tôi hiện nay. Chính nhiều lúc tôi cảm thấy bất an cho tính mạng của ḿnh. Và theo tôi, sự trả tự do mà c̣n giám sát quá gắt gao như thế có phải chăng là tṛ lừa bịp dư luận, vả lại quí vị được trả tự do cũng ở gần sắp măn án tù, chỉ riêng tôi là c̣n hơn 2 năm thôi. Ngoài ra hiện tại ở nhà tù trại giam Xuân Lộc Z30A, K3 này c̣n khoảng 60 người tù chính trị, trong đó c̣n có một số vị chức sắc tôn giáo như :

1. Linh mục Phạm Minh Trí 66 tuổi, ở tù gần 18 năm, bị tâm thần điên loạn hơn 10 năm (Ḍng Đồng Công).

2. Linh mục Nguyễn Viết Huân 56 tuổi, ở tù gần 18 năm (Ḍng Đồng Công)

3. Cụ Ngô Văn Ninh 87 tuổi, Hội trưởng Giáo Hội Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương.

4. Lê Văn Chương 42 tuổi, là tu sĩ thuộc Giáo hội Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương.

5. Nguyễn Văn Sĩ 42 tuổi, Pháp danh Thích Thiện Tâm (Nam Tông) ở Campuchia về nước hoạt động trong Đảng Nhân dân Hành động.

6. Lê Văn Tính 66 tuổi, cán bộ Ban giảng huấn giáo lư thuộc Phật giáo Hoà Hảo, tham gia tổ chức Đảng Nhân dân hành động, ông đă và đang bị giam riêng hơn 5 năm qua v́ tội khiếu nại phản đối vụ án bắt oan những người đấu tranh cho Tự do, dân chủ.

Ngoài ra c̣n một vài cư sĩ cao tuổi như :

7. Mai Xuân Khánh 64 tuổi (Thiên Chúa giáo)

8. Phương Văn Kiến 71 tuổi (Phật giáo Hoà Hảo)

9. Trần Văn Thiêng 67 tuổi (Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất)

Với tuổi cao như thế và bản án lâu dài, cho dù có được trả tự do khi trở về với tấm thân gầy guộc chỉ làm khổ thêm sự gánh nặng của gia đ́nh. Chứ, những năm trước đây tôi cũng đă từng chứng kiến có những người chỉ đến nhà tù một lần thôi, th́ đă vĩnh viễn ra đi về miền đất lạnh mà không trở lại quê nhà, hay giáo đường hoặc thánh thất... Chẳng hạn như :

1. Linh mục Nguyễn Văn Vàng ḍng Chúa Cứu Thế nhà hùng biện phương Đông, ăn 1 chén cơm chan ngập nước muối đậm đặc, phát nước một ngày hơn 1/2 lít không đủ uống. Vị linh mục này tự uống cả nước tiểu của ḿnh và bị phù nề té chết (tại nhà giam trại Xuân Phước, Phú Yên).

2. Linh mục Nguyễn Quang Minh nhà thờ Vinh Sơn chỉ v́ mang vào trại vài chiếc bánh thánh đă bị giam nơi kỷ luật. Ngài bị đánh ra máu miệng cả hậu môn rồi chết (tại nhà tù Xuân Phước, Phú Yên).

3. Linh mục Nguyễn Luân tỉnh Phan Rang bị kỷ luật lâu dài nên bệnh phổi mà chết, v́ ngủ không chiếu, không màn (tại nhà tù Xuân Phước).

4. Đinh Văn Kiệp chức Lễ sanh Đạo Cao Đài Tây Ninh chỉ v́ vài cọng rau ném sang nhà khác trợ giúp đồng cảnh bị đánh tới lao phổi mà chết (tại nhà tù Xuân Phước).

5. Ông Trương Phước Đức, đạo Cao Đài, bị giam kỷ luật chết, v.v...và v.v... Không thể kể hết v́ quá đau ḷng..."

 
Trích:
Thích Thiện Minh: Thỉnh nguyện thư, Kính gửi Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Ho (2005-02-21)


diendannhacsingheo <tranhactran@...> wrote:


Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#314 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Wed Apr 25, 2007 2:26 am
Subject: PT An Ninh: O Cuoi 2 con duong
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
Nhờ ḷng bác ái của VNCH, "Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị . Nhờ vậy mà tôi c̣n sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê."*, nhưng đến giờ phút cuối cùng "câu nói" ... "của Mác, với tôi, vẫn măi măi là một lời vàng ngọc"*
 
"Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông" "cô thuộc gia đ́nh một đảng viên cộng sản cao cấp" "bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người c̣n đi học ở Hà Nội" "không về nước mà t́m cách trốn sang Tây Đức" "Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đ́nh"*
 
"Hà, Nguyễn Thị Hà" "và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan" "làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những người đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu."*
 
Câu chuyện thật hay và cảm động. Cảm ơn tác giả Phạm Tín An Ninh
 
Khóc cho ḷng bác ái !
THT
 
* Trích "Ở cuối hai con đường" - Phạm Tín An Ninh


Nieu Tran <dtnieus@...> wrote:
 
----- Original Message -----
From: ninh pham
Subject: Vedr. Mot chuyen cam dong cua PT An Ninh

 
 
 
NGUYE^~N NGO.C HO^.I
      LAS VEGAS
Hoi Nguyen <hoinguyen17@> wrote:


 
 
Ở cuối hai con đường

(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lại
nhân dịp 30 năm từ ngày miền Nam thất thủ)
Phạm Tín An Ninh
     Những năm "cải tạo" ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đă có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.

    Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lănh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.

  Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.

  Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nh́n thấy là anh ta chỉ c̣n một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?.

  Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nh́n khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.

  Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên ḿnh: Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học tṛ, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lư lịch trích ngang".

      Tôi đang ngồi hư hoáy viết cái bản kê khai lư lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đă thuộc ḷng từ lâu lắm - bởi đă phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:

          - Trong này có anh nào thuộc Sư 23 ?

      Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng :

          - Thưa cán bộ, có tôi ạ,.

          - Anh ở trung đoàn mấy

          - Trung Đoàn 44

          - Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?

          - Vâng, có ạ.

      Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ c̣n cái tay áo đong đưa, lên ;

          - Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.

      Nh́n qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại b́nh tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:

          - Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?

          - Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320. 

      Anh quản giáo rảo mắt nh́n quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:

          - Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi c̣n có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.

          - Sau đó cán bộ được trao trả ? tôi hỏi .

          - Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị . Nhờ vậy mà tôi c̣n sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.

      Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm t́nh những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ ǵn sức khỏe, đừng làm điều ǵ sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói :

          - Tôi rất đau ḷng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có tŕnh độ văn hóa và ai cũng đă từng chỉ huy.

      Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một ngụi tù chỉ có một miếng bánh ḿ đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.

      Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nh́n ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.

      Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng :

          - Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.

      Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.

      Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xă nào đó. Sắn đầu mùa, củ c̣n nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn c̣n nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đă đào sẵn.

      Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-

      Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban" , quản giáo Thà đă báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đă phát được bao nhiêu hecta rừng ?

      Mỗi lần ra băi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :

          - Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt th́ ta nghỉ. Nhớ giữ ǵn sức khỏe, v́ thời gian cải tạo c̣n dài lắm.

      Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lănh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài kư kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em :

          - Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đă chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một ḿnh, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận t́nh săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy ṿng, th́ vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm . Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh c̣n cho tôi nửa bao thuốc lá c̣n lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận t́nh. Tất cả đă đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân t́nh. Vết thương vừa lành, th́ tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện c̣n cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Ḷng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước t́nh con người, t́nh dân tộc mà các anh đă dành cho tôi. T́nh cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy ḷng, không dám tâm sự cùng ai, v́ ḷng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.

      Anh cố gắng giữ b́nh tĩnh, nhưng rơ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.

          - Khi về lại ngoài Bắc, người ta có c̣n tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.

          - Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh pḥng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải t́m cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính v́ vậy mà ḷng tôi cứ dằng vặt măi cho đến hôm nay.

      Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.

      Một buổi sáng sớm, khi sương mù c̣n vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vă rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, c̣n ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nh́n lại, đưa cánh tay chỉ c̣n một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.

   

            Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày th́ gặp băo. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết ḷng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết ḷng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân t́nh đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời c̣n lại của ḿnh.

      Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà c̣n có được tấm ḷng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.

      Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp c̣n trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân t́nh. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, th́ anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.

      Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, v́ cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.

      Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nh́n thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người c̣n đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đă có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đă cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương tŕnh Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.

      Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không c̣n nữa. Cô không về nước mà t́m cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lănh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đ́nh một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi v́ sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nh́n ra được một điều ǵ đó. Trở về Việt Nam, ông không c̣n được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất măn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.

      Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đ́nh, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.

      Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh t́m và trao lại cho anh, như để tỏ chút ḷng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn c̣n giữ sạch được tấm ḷng. Việc t́m anh không phải dễ dàng, v́ chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ : "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn ". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ t́m đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc pḥng. Cô sẽ nhờ ông ta t́m hộ.   

      Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không t́m thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đă bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đă đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô c̣n cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh th́ cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng ǵ, v́ chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.

      Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không c̣n ai nhắc đến chuyện anh Thà.

      Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật ḿnh tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại th́ phải có điều ǵ khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.

          - Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi.

          - Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.

      Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là ḿnh đă quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:

          - Bác có c̣n nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?

          - Ông Thà, Nguyễn văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là ǵ của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan ?

          - Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.

          - Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.

      Tôi gọi lại, và nghe tâm sự năo nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đă không về nước, trốn ở lại. V́ sống bất hợp pháp, nên không t́m được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những ngụi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.

      Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đ́nh th́ bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. V́ vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, c̣n cô Hà th́ đang bị truy nă. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi .

          - Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi.

          - Cháu đang trốn ở nhà một ngụi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, th́ bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.

          - Ba cháu bây giờ làm ǵ ?

          - Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu năo, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. V́ vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.

      Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.

      Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lănh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đă lấy một chiếc trực thăng, chở gia đ́nh, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đ́nh anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.

      Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, th́ t́nh h́nh chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lănh đạo đă thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đ́nh anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.

      Sáng hôm sau, tôi t́m lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm . V́ đi vội, nên tôi chỉ đi một ḿnh. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị c̣n cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đ́nh anh đă dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm t́nh cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết ḷng giúp tôi về việc này.

      Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đ́nh anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lănh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.

      Trước khi về lại Nauy, tôi đă thức trọn một đêm để tâm t́nh khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận t́nh lo lắng cho hai cháu.

      Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đă được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, v́ lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.




 
><><><><><><><><
   



       
"Các Anh thân quí,

      Khi ngồi viết nhừng ḍng này cho các anh, thực t́nh tôi không c̣n nhớ mặt các anh, nhưng tôi c̣n nhớ rất rơ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh c̣n nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, ḷng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đ́nh xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đă từ bỏ Mác, chỉ c̣n một vài nơi lấy Mác làm bức b́nh phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn măi măi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đă luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.

      Chúng tôi mừng cho các anh đă đưa được gia đ́nh ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, c̣n đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra c̣n t́m được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người

      Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới . Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ c̣n một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đ́nh.

      Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đ́nh, tôi mới c̣n sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn c̣n hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết ḷng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.

      Tôi biết ḿnh không c̣n sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rơ được một điều: Chỉ có cái t́nh con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại măi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đă trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."


 
**-***-****-***-**


        Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đă qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm th́: xin hăy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đă gây biết bao chia ĺa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?


  Phạm Tín An Ninh,Vương Quốc Nauy

Recent Activity
Visit Your Group
2008 Election
Who are the
contenders?
Find Deals
Compare prices and
find great discounts.
Yahoo! Mail
Try the all-new
Yahoo! Mail Beta
 


Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

#315 From: "Tran Quan Long" <tql766@...>
Date: Wed Apr 25, 2007 3:46 am
Subject: Re: PT An Ninh: O Cuoi 2 con duong
tql766
Send Email Send Email
 
Thanks Goat
TQL


--- In DIENDANNHACSINGHEO@yahoogroups.com, Tran Tran
<tranhactran@...> wrote:
>
> Nhờ ḷng bác ái của VNCH, "Tôi được các
anh đưa về quân y viện Pleiku chữa
trị . Nhờ vậy mà tôi c̣n sống và
được trao trả tù binh đợt cuối
cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê."*,
nhưng đến giờ phút cuối cùng "câu
nói" ... "của Mác, với tôi, vẫn măi măi là
một lời vàng ngọc"*
>
>   "Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính
tông" "cô thuộc gia đ́nh một đảng viên
cộng sản cao cấp" "bạn thân với
nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người c̣n
đi học ở Hà Nội" "không về
nước mà t́m cách trốn sang Tây Đức" "Sau
một thời gian, được cấp quốc
tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam
thăm gia đ́nh"*
>
>   "Hà, Nguyễn Thị Hà" "và em trai, tên Tĩnh,
được bố mẹ lo lắng, chạy
vạy, bán hết đồ đạc trong nhà,
kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà
cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay
mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao
động ở Ba-Lan" "làm chui, buôn bán thuốc lá
lậu. Một số trở thành ăn cắp,
băng đảng, quay lại cướp bóc
hoặc tống tiền chính những người
đồng hương, đồng cảnh. Số
người Việt này trở thành mối bận
tâm không nhỏ cho những chính quyền mới
ở các nước Đông Âu."*
>
>   Câu chuyện thật hay và cảm động.
Cảm ơn tác giả Phạm Tín An Ninh
>
>   Khóc cho ḷng bác ái !
>     http://kimvo.net/BaKhong.htm
>
>
>   THT
>
>   * Trích "Ở cuối hai con đường" -
Phạm Tín An Ninh
>
>
> Nieu Tran <dtnieus@...> wrote:
>
>   ----- Original Message -----   From: ninh pham
>   Subject: Vedr. Mot chuyen cam dong cua PT An Ninh
>
>
>
>
>
>
>
>
>   NGUYE^~N NGO.C HO^.I
>         LAS VEGAS
>   Hoi Nguyen <hoinguyen17@> wrote:
>
>
>
>                          Ở cuối hai con
đường
>
> (Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả
xin được kể lại
> nhân dịp 30 năm từ ngày miền Nam thất
thủ)
>   Phạm Tín An Ninh
>      Những năm "cải tạo" ở miền
Bắc, tôi được chuyển đi khá
nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên
Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới
đến Hoàng Liên Sơn, tôi được
đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu
trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng
khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đă có
hơn 20 người bạn tù nằm lại
vĩnh viễn ở dưới sườn
đồi.
>
>     Sau đó, tôi được chuyển về
trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần
Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5,
nơi giam giữ gần 30 tướng lănh miền
Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám
cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn
gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau
nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
>
>   Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán
bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng
tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền
đất, ngồi chờ "đồng chí cán
bộ quản giáo" đến tiếp nhận.
>
>   Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm
thượng úy đi vào láng. Điều
trước tiên chúng tôi nh́n thấy là anh ta chỉ
c̣n một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay
áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống
và phất phơ qua lại theo nhịp đi
của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không
nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai
cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới
đích thực là nợ máu đây, biết trả
như thế nào cho đủ ?.
>
>   Nhưng bất ngờ, người cán bộ
quản giáo đến trước chúng tôi ,
miệng nở nụ cười. Nh́n khuôn mặt
hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng
bớt lo âu.
>
>   Bằng một giọng đặt sệt
Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên
ḿnh: Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số
nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa
cho anh đội trưởng một tập vở
học tṛ, phát cho anh em mỗi người một
tờ giấy để làm bản "lư lịch trích
ngang".
>
>       Tôi đang ngồi hư hoáy viết cái bản kê
khai lư lịch ba đời với bao nhiêu
thứ "tội" dưới biển trên trời mà
tôi đă thuộc ḷng từ lâu lắm - bởi
đă phải viết đến cả trăm
lần, ngay cả những lần bị đánh
thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh
quản giáo hỏi:
>
>           - Trong này có anh nào thuộc Sư 23 ?
>
>       Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng :
>
>           - Thưa cán bộ, có tôi ạ,.
>
>           - Anh ở trung đoàn mấy
>
>           - Trung Đoàn 44
>
>           - Vậy anh có tham dự trận đánh
Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
>
>           - Vâng, có ạ.
>
>       Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất
một nửa, chỉ c̣n cái tay áo đong
đưa, lên ;
>
>           - Tôi bị mất cánh tay này trong trận
đó.
>
>       Nh́n qua anh em, thấy tất cả mọi con
mắt đều dồn về phía tôi. Để
lấy lại b́nh tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ
động:
>
>           - Lúc ấy cán bộ ở đơn
vị nào ?
>
>           - Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc
Sư 320.
>
>       Anh quản giáo rảo mắt nh́n quanh, rồi
hạ giọng tiếp tục:
>
>           - Trận ấy đơn vị tôi thua
nặng. Cả một tiểu đoàn tăng
của tôi c̣n có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi
bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài,
nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
>
>           - Sau đó cán bộ được trao
trả ? tôi hỏi .
>
>           - Tôi bị thương nặng lắm, do
chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi
được các anh đưa về quân y viện
Pleiku chữa trị . Nhờ vậy mà tôi c̣n
sống và được trao trả tù binh
đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp
định Ba Lê.
>
>       Dạo đó, miền Bắc, đặc
biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh
lắm. Mỗi láng được đào một cái
hầm giữa nhà, đốt những gốc cây
được anh em nhặt ngoài rừng, sau
giờ lao động, mang về sưởi
ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống
sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt,
nhưng thực ra anh chỉ tâm t́nh những
chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi
hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố
gắng giữ ǵn sức khỏe, đừng làm
điều ǵ sai phạm để không phải nghe
mấy ông cán bộ nặng lời. Anh
thường nói :
>
>           - Tôi rất đau ḷng, khi thấy các anh
phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết
các anh đều là những người có tŕnh
độ văn hóa và ai cũng đă từng
chỉ huy.
>
>       Mùa đông, không trồng trọt
được, nên khẩu phần ăn của
một ngụi tù chỉ có một miếng bánh ḿ
đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát
bắp hạt. Phần thiếu ăn, một
phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên
nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ.
Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày.
Nhiều người đứng không vững.
>
>       Một buổi chiều cuối đông,
mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín
cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng
tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt
bắp cứng như viên sỏi, nh́n ra cánh
đồng phía trước, thấp thoáng một
người mang áo tơi (loại áo mưa kết
bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này
đến chỗ khác, cho đến khi trời
tối.
>
>       Đêm đó, như thường lệ, anh
Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp
lửa. Anh bảo nhỏ anh đội
trưởng :
>
>           - Tôi để một giỏ cá đàng sau
láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho
mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang
mất sức để các anh bồi dưỡng.
Nhớ giữ kín, đừng để trên
biết.
>
>       Bây giờ anh em mới hiểu, người
mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài
đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai
cũng cảm động.
>
>       Biết là anh em tù bị đói triền miên,
nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng
đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả
đội 50 người tù lên một đồi
trồng toàn sắn của một hợp tác xă nào
đó. Sắn đầu mùa, củ c̣n nhỏ. Anh
chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân
sắn vẫn c̣n nguyên; đào mấy cái
bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà
không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù
xuống đồi xách hai thùng nước mang lên,
căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn
ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng
gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn
bị đi về", anh em tức khắc dấu
hết
>  "tang vật" xuống một cái hố đă
đào sẵn.
>
>       Dường như đó là cái ngày duy nhất
mà 50 người tù chúng tôi được no -dù
chỉ là no sắn-
>
>       Không biết tối hôm ấy, trong
giờ "giao ban" , quản giáo Thà đă báo cáo với
ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi
đă phát được bao nhiêu hecta rừng ?
>
>       Mỗi lần ra băi thấy anh em lao
động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :
>
>           - Anh em làm việc vừa phải, khi nào
mệt th́ ta nghỉ. Nhớ giữ ǵn sức
khỏe, v́ thời gian cải tạo c̣n dài lắm.
>
>       Vào một dịp Tết, cầm giấy
nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà
ở lại với anh em. Số tiền
lương vừa lănh được, anh mua
mấy bánh thuốc lào, vài kư kẹo lạc,
biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm
sự thật nhiều với anh em :
>
>           - Lần bị thương năm 1972
ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đă chết. Vết
thương quá nặng, lại phải nằm trong
rừng rậm một ḿnh, không có thức ăn,
nước uống. Trong lúc tuyệt vọng
nhất, tôi bất ngờ được một
đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các
anh băng bó vết thương, cho tôi ăn
uống, tận t́nh săn sóc tôi như một
người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng
tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay
tản thương đến đưa tôi về
bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa
xuống được, đảo mấy ṿng, th́
vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà
không
>  có ai bị thương. Các anh lại phải
vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu
rừng chỉ có một khe đá là nơi trú
ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán
mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc
suốt cả đêm . Người chỉ huy hôm
ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung
úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và
khuyên tôi cố gắng để được
đưa về quân y viện chữa trị. Anh
c̣n cho tôi nửa bao thuốc lá c̣n lại của anh,
bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn
đau của vết thương. Sáng sớm hôm
sau, tôi được máy bay tản thương
đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở
>  đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng
được bác sĩ các anh chăm sóc tận
t́nh. Tất cả đă đối xử với
tôi như người đồng đội. Có
lần, một phái đoàn đến ủy lạo
thương binh các anh, họ cũng đến
thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân t́nh.
Vết thương vừa lành, th́ tôi
được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay,
bệnh viện c̣n cho tôi nhiều thuốc men và
một số đồ dùng. Ḷng tôi tràn ngập
cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước t́nh con
người, t́nh dân tộc mà các anh đă dành cho tôi.
T́nh cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy ḷng,
không dám tâm sự cùng ai, v́ ḷng tôi lúc nào cũng
nghĩ
>  đến vợ con tôi, và nhất là người
mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong
chờ tôi trở về.
>
>       Anh cố gắng giữ b́nh tĩnh, nhưng
rơ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
>
>           - Khi về lại ngoài Bắc,
người ta có c̣n tin cậy anh không? - một anh
tù hỏi.
>
>           - Ngay sau khi được trao trả, tôi
phải vất hết thuốc men và những
thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên
thuốc trụ sinh pḥng nhiễm trùng, nhưng
họ khám xét kỹ quá, tôi phải t́m cách vất
đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng
tôi được học tập hơn một
tháng, làm kiểm điểm và lên án sự
đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy
xấu hổ lắm khi nói điều ngược
lại, nhưng rồi ai cũng thế, không
thể làm khác hơn. Chính v́ vậy mà ḷng tôi cứ
dằng vặt măi cho đến hôm nay.
>
>       Thời gian vàng son của năm mươi
người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa
Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
>
>       Một buổi sáng sớm, khi sương mù
c̣n vương trên thung lũng trại tù, một
người đạp chiếc xe đạp
vội vă rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo
theo một cái rương bằng gỗ và một
túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em
nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một
đội năm mươi người tù vừa
mới thức dậy, c̣n ngái ngủ, chạy ùa ra
sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nh́n lại,
đưa cánh tay chỉ c̣n một nửa lên
vẫy vẫy, rồi biến dạng trước
cổng trại.
>
>
>
>             Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30
người vượt biển, trong đó có tôi và
ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ
ngày trước, ra đến hải phận
quốc tế hai ngày th́ gặp băo. Chúng tôi may
mắn được một chiếc tàu chuyên
chở dầu hỏa của vương quốc
Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore,
cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một
thiên đường. Từ vị thuyền
trưởng đến anh thủy thủ, chị
bác sĩ, y tá, đều hết ḷng săn sóc lo
lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để
được chuyển đến trại tị
nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai
cầm
>  được nước mắt. Tất cả
thủy thủ đoàn đều ra đứng
thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc
sướt mướt ôm lấy từng
người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày
sống trong trại, chúng tôi được
thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy,
thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi
đủ điều. Chúng tôi vừa xúc
động vừa đau đớn. Nỗi đau
của một người vừa mới bị anh
em một nhà hành hạ, đuổi xô đến
bước đường cùng, phải bỏ nhà
bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây
giờ lại được những kẻ xa
lạ không cùng
>  ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết ḷng đùm
bọc yêu thương. Mang cái ân t́nh đó, chúng tôi
chọn Nauy là nơi tạm gởi phần
đời c̣n lại của ḿnh.
>
>       Bốn anh em, những người cùng tù
Nghĩa Lộ năm nào, được sắp
xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau
đều nhắc lại những năm tháng
khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi
nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi
cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một
người không cùng chiến tuyến mà c̣n có
được tấm ḷng. Sau lần bị "hạ
tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không
biết anh đi về đâu, nhưng chắc
chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
>
>       Sau hai năm theo học, tôi được
nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung
ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth
Hansen, một bạn đồng nghiệp c̣n
trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này
trở nên thân t́nh. Anh ta là sinh viên đang theo học
về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ
hoc. Làm chung gần một năm, th́ anh bạn Nauy
này lại được nhận vào một công ty
lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn
Độ.
>
>       Bẵng đi vài năm, bất ngờ
một hôm anh gọi điện thoại báo là
sẽ đến thăm tôi và đem đến cho
tôi một bất ngờ. Và đúng là bất
ngờ thật, v́ cùng đến với anh là
một người con gái Việt nam. Anh giới
thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị
hôn thê của anh.
>
>       Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính
tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô
vui mừng lắm, nhưng khi nh́n thấy tấm
ảnh của tôi treo trên tường, mang quân
phục và cấp bậc của quân đội VNCH,
cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi
cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô
được tự nhiên. Cô cho biết cô là
bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai
người c̣n đi học ở Hà Nội. Sau sáu
năm du học ở Đông Đức, rồi
Liên Xô, cô được sang thực tập tại
Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp
gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô
đă có chồng và một đứa con trai.
>  Người chồng trước cùng du học
ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao
cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau
thời gian thực tập ở Ấn Độ
trở về, cô được bạn bè và
người thân cho biết là anh chồng đă
cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần
sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái
với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói
những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa
giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp
chương tŕnh Tiến sĩ tại một
đại học ở Đông Đức.
>
>       Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục
bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND
Đức (Đông Đức) bỗng chốc không
c̣n nữa. Cô không về nước mà t́m cách
trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian
hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc
được với anh Kenneth Hansen, để
được bảo lănh sang Nauy. Biết cô
thuộc gia đ́nh một đảng viên cộng
sản cao cấp, bởi cô được du
học ở nhiều nước thuộc khối
cộng sản trước đây, nhưng tôi không
hỏi v́ sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen,
cho biết, bố của cô trước kia là
đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau
>  ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan
vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu,
ông xót xa nh́n ra được một điều ǵ
đó. Trở về Việt Nam, ông không c̣n
được nhà nước Cộng sản
trọng dụng, trở thành kẻ bất măn,
cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
>
>       Sau một thời gian, được cấp
quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về
Việt Nam thăm gia đ́nh, đặc biệt là
người cha già đang ốm nặng. Nhân
tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.
>
>       Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm
tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà
thưở trước. Tôi cùng với mấy
người bạn tù cũ, góp một số
tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan
về Nghệ Tĩnh t́m và trao lại cho anh, như
để tỏ chút ḷng biết ơn một
người bao nhiêu năm sống trong đám bùn
lầy nước đọng mà vẫn c̣n giữ
sạch được tấm ḷng. Việc t́m anh
không phải dễ dàng, v́ chúng tôi không biết
nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin,
chỉ vỏn vẹn vài chữ : "ông Nguyễn
văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm
1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù
>  cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên
Sơn ". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và
hứa sẽ t́m đủ mọi cách để
gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho
biết là cô có ông chú họ hiện làm việc
tại bộ quốc pḥng. Cô sẽ nhờ ông ta t́m
hộ.
>
>       Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy,
báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không t́m
thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ
quan. Ông đoán là anh ta đă bị phục viên
từ lâu lắm rồi. Cô đă đích thân vào
Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan,
nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê
mấy tờ báo địa phương đăng
lời nhắn tin, trong đó có ghi số
điện thoại của tôi. Cô c̣n cho biết là
nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh th́ cô
nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng
ǵ, v́ chỉ một ít người ở thành
phố có báo đọc.
>
>       Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu
việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp
hội nhập vào đời sống trên quê
hương mới, chúng tôi không c̣n ai nhắc
đến chuyện anh Thà.
>
>       Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe
tiếng điện thoại reo, tôi giật ḿnh
tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai
giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ
bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái
ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại
th́ phải có điều ǵ khẩn cấp lắm.
Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là
giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất
khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép,
xin được gặp tôi. Cô cẩn thận
nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy
đủ họ và tên.
>
>           - Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu
ạ ? tôi hỏi.
>
>           - Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu
đang ở Ba Lan ạ.
>
>       Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí
nhưng tôi không nhớ là ḿnh đă quen ai tên Hà. Bên
kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
>
>           - Bác có c̣n nhớ ông Thà, làm quản giáo
ở Nghĩa Lộ không ạ?
>
>           - Ông Thà, Nguyễn văn Thà, Bác nhớ,
nhưng cô là ǵ của ông Thà, và sao lại ở Ba-
Lan ?
>
>           - Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan
với một đứa em trai. Bọn cháu khổ
lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
>
>           - Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại
ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
>
>       Tôi gọi lại, và nghe tâm sự năo nề
của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được
bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết
đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc
xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là
một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho
hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi
chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn
theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô
cùng hầu hết những người
được chính quyền Việt Nam gởi sang
lao động, đă không về nước,
trốn ở lại. V́ sống bất hợp pháp,
nên không t́m được việc làm chính thức.
Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá
>  lậu. Một số trở thành ăn cắp,
băng đảng, quay lại cướp bóc
hoặc tống tiền chính những ngụi
đồng hương, đồng cảnh. Số
người Việt này trở thành mối bận
tâm không nhỏ cho những chính quyền mới
ở các nước Đông Âu.
>
>       Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ
trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của
một người khác, mang đi bán. Nhưng
mỗi lần dành dụm được một ít,
chưa kịp gởi về giúp gia đ́nh th́
bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai
nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát
bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa
bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-
Lan. V́ vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, c̣n
cô Hà th́ đang bị truy nă. Việc xảy ra
một ngày trước khi cô Hà gọi điện
thoại cho tôi .
>
>           - Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi
hỏi.
>
>           - Cháu đang trốn ở nhà một ngụi
bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không
biết phải làm sao, th́ bất ngờ nhớ
đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách
nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường
hợp rất cần thiết mới gọi cho
bác.
>
>           - Ba cháu bây giờ làm ǵ ?
>
>           - Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm
bị tai biến mạch máu năo, liệt nửa
người, nên chỉ nằm một chỗ. V́
vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây
để kiếm tiền gởi về cho bố
cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
>
>       Tôi ghi số điện thoại, địa
chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà
Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ,
trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày
rất gần ở Ba-Lan.
>
>       Tôi nhớ tới một người bạn
Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai
vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn
tôi ba tuổi. Trước kia là một đại
tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến
đấu thuộc quân đội cộng sản
Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công
Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lănh đạo. Hành
tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh
đă lấy một chiếc trực thăng,
chở gia đ́nh, gồm người vợ và hai
đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự
thỉnh cầu của anh, gia đ́nh anh
được chính phủ Nauy đặc biệt
nhận cho tị nạn chính trị.
>
>       Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một
lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng
làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng
chỉ hơn một năm sau, th́ t́nh h́nh chính
trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ.
Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lănh
đạo đă thắng lợi vẻ vang . Ông
được bầu làm Tổng Thống
đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ.
Anh Piwko, người bạn tị nạn của
tôi, được mời về nước
để giữ môt chức vụ khá lớn trong
ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ
đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh
và năm mới. Anh kể đủ thứ
chuyện về
>  xứ sở của anh, về niềm vui và hy
vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau
tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh
cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời
vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi
với gia đ́nh anh vài hôm và xem đất
nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong
dân chủ.
>
>       Sáng hôm sau, tôi t́m lại số phôn và gọi
cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang
thăm . V́ đi vội, nên tôi chỉ đi một
ḿnh. Vợ chồng anh đón tôi ở phi
trường, nơi dành cho VIP (thượng khách).
Anh chị c̣n cho biết là rất thú vị khi có
dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy
để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự
xúc động trước sự tiếp đón
nồng hậu mà gia đ́nh anh đă dành cho tôi. Tôi
ngại ngùng không dám nói với anh những
điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi
cuối cùng, tôi cũng phải tâm t́nh cùng anh về
chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa
Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của
>  hai đứa con hiện đang ở tại
đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của
anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi
đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết ḷng
giúp tôi về việc này.
>
>       Anh đưa tôi đến gặp hai chị
em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia
đ́nh anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lănh
Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
>
>       Trước khi về lại Nauy, tôi đă
thức trọn một đêm để tâm t́nh
khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu
một số tiền để tạm sinh sống
và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố
hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi
trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm,
anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và
sẽ tận t́nh lo lắng cho hai cháu.
>
>       Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho
tôi tin mừng: hai chị em Hà đă được
Piwko bảo trợ, được cấp giấy
tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu
đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà,
v́ lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh,
em Hà, sẽ được tiếp tục theo
học tại một trường trung học.
>
>
>
>     ><><><><><><><><
>
>
>
>
>         "Các Anh thân quí,
>
>       Khi ngồi viết nhừng ḍng này cho các anh,
thực t́nh tôi không c̣n nhớ mặt các anh, nhưng
tôi c̣n nhớ rất rơ thời gian tôi làm quản
giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không
ngờ hôm nay các anh c̣n nhớ đến tôi.
Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi
về, cùng với số tiền của các anh
gởi cho, ḷng tôi cảm xúc đến nghẹn
ngào. Tôi và gia đ́nh xin muôn vàn cảm tạ. Các anh
làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác:
Chỉ có loài súc vật mới quay lưng
trước cảnh khốn khổ của
đồng loại". Ngày nay, cả thế giới
đều lên án Mác, những nước một
thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc
soi
>  đường, bây giờ cũng đă từ
bỏ Mác, chỉ c̣n một vài nơi lấy Mác làm
bức b́nh phong để che đậy những
mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia
của Mác, với tôi, vẫn măi măi là một
lời vàng ngọc. Điều tệ hại là
những kẻ một thời theo Mác đă luôn luôn
làm ngược lại lời nói này của Mác.
>
>       Chúng tôi mừng cho các anh đă đưa
được gia đ́nh ra khỏi nước.
Mặc dù tôi biết một người phải
bỏ quê hương mà đi, c̣n đau đớn
nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả
biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các
cháu phải ra đi để may ra c̣n t́m
được một chút tương lai, giá
trị nào đó của kiếp con người
>
>       Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm
nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi
bị điều ra mặt trận phương
Bắc, trong thời kỳ giặc bành
trướng Trung Quốc tràn qua biên giới .
Nhờ thương tật, tôi được
bố trí một công tác lặt vặt ở hậu
cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị
phục viên về nhà, tiền phụ cấp không
đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ c̣n một
cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để
phụ giúp gia đ́nh.
>
>       Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng,
nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu
Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đ́nh,
tôi mới c̣n sống được đến hôm
nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy
tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng
vẫn c̣n hơn là về lại bên này. Có làm
suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà
nhờ các anh hết ḷng giúp hai cháu. Cái ơn này
biết khi nào chúng tôi mới trả được
cho các anh đây.
>
>       Tôi biết ḿnh không c̣n sống bao lâu. Cuối
đời một con người, tôi nghiệm rơ
được một điều: Chỉ có cái t́nh
con người với nhau mới thực sự quí
giá và tồn tại măi với thời gian. Những
chế độ này, chủ nghĩa nọ,
cuối cùng cũng chỉ là những đám mây
đen bay trên đầu. Đôi khi che ta
được chút nắng, nhưng nhiều lúc
đă trút bao cơn mưa lũ xuống để
làm khốn khổ cả nhân gian..."
>
>
>   **-***-****-***-**
>
>
>         Không ngờ lá thư đầu tiên này
cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận
được từ anh Thà. Anh đă qua đời
sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp
hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy
chương, anh được cấp trong thời
chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà.
Anh thầm th́: xin hăy chôn chặt hộ tôi cái quá
khứ đau thương và lầm lỡ đó
lại. Chính nó đă gây biết bao chia ĺa, tang tóc, và
sự thù hận giữa những người anh em
cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho
đến bao giờ?
>
>
>   Phạm Tín An Ninh,Vương Quốc Nauy
>
>
>
>
>       Recent Activity
>
>       1
>   New Members
>
> Visit Your Group
>       2008 Election
>   For President
>   Who are the
>   contenders?
>
>     Find Deals
>   Yahoo! Shopping
>   Compare prices and
>   find great discounts.
>
>     Yahoo! Mail
>   You're invited!
>   Try the all-new
>   Yahoo! Mail Beta
>
>
>
>
>
>
>
>
>
> ---------------------------------
> Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
>  Check outnew cars at Yahoo! Autos.
>

#316 From: Tran Tran <tranhactran@...>
Date: Wed Apr 25, 2007 1:31 pm
Subject: Re: MOT CAU CHUYEN THAT CAM DONG VE TINH NGUOI cua PHAM TIN AN NINH
diendannhacs...
Send Email Send Email
 
Nhờ ḷng bác ái của VNCH, "Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị . Nhờ vậy mà tôi c̣n sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê."*, nhưng đến giờ phút cuối cùng "câu nói" ... "của Mác, với tôi, vẫn măi măi là một lời vàng ngọc"*
 
"Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông" "cô thuộc gia đ́nh một đảng viên cộng sản cao cấp" "bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người c̣n đi học ở Hà Nội" "không về nước mà t́m cách trốn sang Tây Đức" "Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đ́nh"*
 
"Hà, Nguyễn Thị Hà" "và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan" "làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những người đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu."*
 
Câu chuyện thật hay và cảm động. Cảm ơn tác giả Phạm Tín An Ninh
 
Khóc cho ḷng bác ái !
THT
 
* Trích "Ở cuối hai con đường" - Phạm Tín An Ninh


TLBT <TLBT@...> wrote:
Xin tran trong gioi thieu toi quy doc gia mot cau chuyen that cam dong noi ve TINH NGUOI va an chua ly NHAN QUA trong do cua tac gia PHAM TIN AN NINH ma chung toi vua nhan duoc tu internet.
 
Xem bai tren web:
 
 
Xin trân trọng giới thiệu tới quư độc giả một câu chuyện thật cảm động nói về T̀NH NGƯỜI và ẩn chứa lư NHÂN QUẢ trong đó của tác giả PHẠM TÍN AN NINH mà chúng tôi vừa nhận được từ internet.
 
Chúng tôi mạn phép Quư Tác giả để lưu trữ bài này trên trang nhà ở link sau đây:
 
 
 
Ở cuối hai con đường
 
(*)
(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lại
nhân dịp 30 năm từ ngày miền Nam thất thủ)
 
Phạm Tín An Ninh
 
Những năm "cải tạo" ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đă có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lănh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nh́n thấy là anh ta chỉ c̣n một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ?
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nh́n khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên ḿnh: Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học tṛ, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lư lịch trích ngang".
Tôi đang ngồi hư hoáy viết cái bản kê khai lư lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đă thuộc ḷng từ lâu lắm - bởi đă phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
- Trong này có anh nào thuộc Sư 23?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:
- Thưa cán bộ, có tôi ạ.
- Anh ở trung đoàn mấy.
- Trung Đoàn 44.
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ c̣n cái tay áo đong đưa, lên:
- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nh́n qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại b́nh tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo rảo mắt nh́n quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi c̣n có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả? tôi hỏi.
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi c̣n sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm t́nh những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ ǵn sức khỏe, đừng làm điều ǵ sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:
- Tôi rất đau ḷng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có tŕnh độ văn hóa và ai cũng đă từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một ngụi tù chỉ có một miếng bánh ḿ đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nh́n ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng:
- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xă nào đó. Sắn đầu mùa, củ c̣n nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn c̣n nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đă đào sẵn.
Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-
Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban", quản giáo Thà đă báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đă phát được bao nhiêu hecta rừng?
Mỗi lần ra băi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ:
- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt th́ ta nghỉ. Nhớ giữ ǵn sức khỏe, v́ thời gian cải tạo c̣n dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lănh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài kư kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:
- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đă chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một ḿnh, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận t́nh săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy ṿng, th́ vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh c̣n cho tôi nửa bao thuốc lá c̣n lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận t́nh. Tất cả đă đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân t́nh. Vết thương vừa lành, th́ tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện c̣n cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Ḷng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước t́nh con người, t́nh dân tộc mà các anh đă dành cho tôi. T́nh cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy ḷng, không dám tâm sự cùng ai, v́ ḷng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng giữ b́nh tĩnh, nhưng rơ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có c̣n tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh pḥng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải t́m cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính v́ vậy mà ḷng tôi cứ dằng vặt măi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù c̣n vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vă rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, c̣n ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nh́n lại, đưa cánh tay chỉ c̣n một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
* * *
Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày th́ gặp băo. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết ḷng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết ḷng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân t́nh đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời c̣n lại của ḿnh.
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà c̣n có được tấm ḷng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp c̣n trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân t́nh. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, th́ anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, v́ cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nh́n thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ, đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người c̣n đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đă có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đă cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương tŕnh Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không c̣n nữa. Cô không về nước mà t́m cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lănh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đ́nh một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi v́ sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nh́n ra được một điều ǵ đó. Trở về Việt Nam, ông không c̣n được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất măn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đ́nh, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh t́m và trao lại cho anh, như để tỏ chút ḷng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn c̣n giữ sạch được tấm ḷng. Việc t́m anh không phải dễ dàng, v́ chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn ". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ t́m đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc pḥng. Cô sẽ nhờ ông ta t́m hộ.
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không t́m thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đă bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đă đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô c̣n cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh th́ cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng ǵ, v́ chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.
Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không c̣n ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật ḿnh tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại th́ phải có điều ǵ khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? Tôi hỏi.
- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là ḿnh đă quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
- Bác có c̣n nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông Thà, Nguyễn văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là ǵ của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan?
- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại, và nghe tâm sự năo nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đă không về nước, trốn ở lại. V́ sống bất hợp pháp, nên không t́m được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những ngụi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đ́nh th́ bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. V́ vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, c̣n cô Hà th́ đang bị truy nă. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.
- Bây giờ cháu đang ở đâu? Tôi hỏi.
- Cháu đang trốn ở nhà một ngụi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, th́ bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
- Ba cháu bây giờ làm ǵ?
- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu năo, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. V́ vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lănh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đă lấy một chiếc trực thăng, chở gia đ́nh, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đ́nh anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, th́ t́nh h́nh chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lănh đạo đă thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đ́nh anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm sau, tôi t́m lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm. V́ đi vội, nên tôi chỉ đi một ḿnh. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị c̣n cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đ́nh anh đă dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm t́nh cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết ḷng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đ́nh anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lănh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Nauy, tôi đă thức trọn một đêm để tâm t́nh khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận t́nh lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đă được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, v́ lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
 
><><><><><><><><
      "Các Anh thân quí,
      Khi ngồi viết nhừng ḍng này cho các anh, thực t́nh tôi không c̣n nhớ mặt các anh, nhưng tôi c̣n nhớ rất rơ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh c̣n nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, ḷng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đ́nh xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đă từ bỏ Mác, chỉ c̣n một vài nơi lấy Mác làm bức b́nh phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn măi măi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đă luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
      Chúng tôi mừng cho các anh đă đưa được gia đ́nh ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, c̣n đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra c̣n t́m được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
      Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ c̣n một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đ́nh.
      Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đ́nh, tôi mới c̣n sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn c̣n hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết ḷng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
      Tôi biết ḿnh không c̣n sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rơ được một điều: Chỉ có cái t́nh con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại măi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đă trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."
* * * * *
        Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đă qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm th́: xin hăy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đă gây biết bao chia ĺa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?
Phạm Tín An Ninh
(Vương Quôc Na-Uy)
(*) H́nh trong phim "Vượt Sóng - Journey From The Fall"
 
.


Ahhh...imagining that irresistible "new car" smell?
Check out new cars at Yahoo! Autos.

Messages 286 - 316 of 19497   Oldest  |  < Older  |  Newer >  |  Newest
Add to My Yahoo!      XML What's This?

Copyright © 2010 Yahoo! Inc. All rights reserved.
Privacy Policy - Terms of Service - Guidelines NEW - Help